Thứ Tư, 20 tháng 12, 2017

Có hay không Độc lập – Tự do – Hạnh phúc?




                            @    Minh Tâm

Là người thích tự do nên ngay từ nhỏ tôi đã tự mình làm mọi việc, từ chuyện sinh hoạt hằng ngày đến việc học hành, tìm việc làm cũng như quyết định tương lai của mình. Tôi không thích sự bó buộc, càng không thích bị người khác kiểm soát hay bị phụ thuộc vào ai đó, vì thế tôi hiểu rất rõ giá trị của độc lập, tự do. Và bởi vậy khi đọc bài viết của Le Nguyen đăng trên Danlambao với tiêu đề “Độc lập, Tự do, Hạnh phúc là trò bịp của nhà nước pháp quyền XHCNVN”, tôi xin có vài điều trao đổi, chia sẻ cùng bạn đọc gần xa về những suy nghĩ từ nhận thức của chính mình.
Nhớ lại thời kỳ đất nước bị thực dân, phong kiến và đế quốc xâm lăng, cả dân tộc lúc ấy phải sống trong cảnh tù túng, khổ cực và mất tự do. Trải qua bao cuộc chiến tranh gian khổ, thậm chí phải chấp nhận cả những hy sinh, mất mát, cuối cùng chúng ta cũng đã giành lại độc lập, tự do và hơn hết là nhân dân đã thoát khỏi ách nô lệ, lầm than, được sống trong môi trường hòa bình, ổn định.
Trước hết, nói về “độc lập”: Kể từ khi nhân dân ta giành lại chủ quyền từ tay kẻ thù xâm lược là chúng ta đã có được độc lập, bởi khi đó chúng ta không bị thôn tính, không bị phụ thuộc vào nước khác. Từ đó đến nay, chúng ta đã luôn giữ vững và khẳng định được nền độc lập, chủ quyền của quốc gia, dân tộc. Thực tế là chúng ta đang được sống trong một môi trường hòa bình, ổn định, khẳng định được chủ quyền của đất nước cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Như thế chẳng phải là “độc lập” hay sao? Tất nhiên ở đây phải hiểu “độc lập” là sự khẳng định chủ quyền của quốc gia, dân tộc, chứ không phải “độc lập” là tuyệt giao với tất cả các nước khác để chỉ đứng một mình. Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, một quốc gia muốn phát triển được thì phải mở rộng quan hệ ngoại giao. Và nước ta cũng khổng phải là ngoại lệ. Hiện nay, Đảng, Nhà nước ta tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại, mở rộng quan hệ ngoại giao đa phương với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Chúng ta tham gia vào nhiều tổ chức quốc tế như APEC, ASEM, ASEAN, WTO, UNESCO, Liên hợp quốc… (là thành viên của hơn 70 tổ chức khu vực và thế giới. Tuy nhiên Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán quan điểm đối ngoại là độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; kiên quyết đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước, nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân.
Về tự do: Từ thực tế của cuộc sống của những năm tháng đã qua, tôi nhận thấy từ sau khi giành lại chính quyền và nền độc lập từ tay kẻ thù xâm lược, nhân dân ta không còn phải sống trong cảnh tù túng, bị phụ thuộc mà đã hoàn toàn được tự do. Và càng ngày thì quyền “tự do” ấy càng được khẳng định ở mức cao hơn. Chúng ta được tự do về mọi mặt: tự do lựa chọn cuộc sống riêng, tự do lựa chọn hôn nhân, tự do đi lại và cư trú ở trong nước, ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước; tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do lựa chọn việc học hành, khám chữa bệnh, thụ hưởng các giá trị vật chất, văn hóa tinh thần…. Không những được hưởng những quyền tự do, dân chủ đó mà chúng ta còn được bảo vệ và tạo điều kiện để quyền “tự do” được thực hiện một cách toàn diện và đầy đủ hơn. Hiến pháp năm 2013 đã quy định rõ “Ở nước Cộng hòa XHCN VN, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”; “Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội”; “Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân”; “Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em”; “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục”, “Thanh niên được Nhà nước, gia đình và xã hội tạo điều kiện học tập, lao động, giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thức công dân…”, “Người cao tuổi được Nhà nước, gia đình và xã hội tôn trọng, chăm sóc và phát huy vai trò trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”… Rõ ràng chúng ta đang được hưởng và được tạo điều kiện để thụ hưởng những quyền tự do ấy. Như vậy không thể nào có chuyện những quyền tự do ấy chỉ là “trò bịp” và “độc lập, tự do đúng nghĩa độc lập tự do là món xa xí phẩm, là hàng quý hiếm khó tìm thấy trên đất nước được gọi là pháp quyền XHCN VN”  và càng không thể có chuyện “người dân yêu nước, lên tiếng chống xấu ác bất công, chống tay sai bán nước, chống kẻ làm nghèo đất nước làm khổ nhân dân, chống phá rừng giết biển với mong muốn đất nước thực sự độc lập, người dân thực sự tự do lại bị bắt giữ tra tấn tống giam tùy tiện, trái pháp luật của chính nó làm ra!” như lời Le Nguyen nói! Những người thật sự yêu nước, lên tiếng chống cái ác, cái xấu, cái bất công, thực sự vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, vì nhân dân thì không những được bảo đảm quyền tự do của mình mà còn được Nhà nước bảo vệ và khuyến khích. Tuy nhiên cũng cần phải hiểu “tự do” ở đây không có nghĩa là chúng ta thích làm gì thì làm. Mà ở đất nước nào cũng thế, tự do cũng cần phải tuân thủ theo quy tắc, quy định của từng quốc gia, không thể để những kẻ lợi dụng cái gọi là “tự do, dân chủ” để xuyên tạc, bóp méo, chia rẽ khối đại đoàn kết, làm ảnh hưởng đến quốc gia, dân tộc. Ở nước ta, các quyền tự do của công dân được bảo vệ và tạo điều kiện nhưng không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, không vi phạm hiến pháp và pháp luật.
Về hạnh phúc: Mỗi người có thể quan niệm một cách khác nhau về hạnh phúc, tuy nhiên, hiểu một cách chung nhất thì hạnh phúc là khi chúng ta đạt được những điều chúng ta mong muốn, được sống và làm việc theo ý nguyện của mình. Thực tế thì khi một đất nước được độc lập, tự do thì đó đã là một niềm hạnh phúc lớn lao đối với dân tộc sống trong đất nước ấy rồi. Và chúng ta ngày nay, không những được sống trong môi trường hòa bình, khẳng định được chủ quyền quốc gia, dân tộc, được bảo vệ và tạo điều kiện thực hiện quyền con người và nghĩa vụ công dân mà chúng ta còn có điều kiện để thụ hưởng cuộc sống với những giá trị cả về vật chất và tinh thần. Như vậy chẳng phải là hạnh phúc hay sao? Và những điều Le Nguyen nói “Sự thật của tiêu ngữ độc lập - tự do - hạnh phúc chỉ là phương tiện, là công cụ cho đảng csVN lợi dụng máu xương dân tộc nhằm làm tên lính xung kích, tên lính đánh thuê cho cộng sản quốc tế nhuộm đỏ toàn cầu và phục vụ cho tham vọng quyền lực chính trị của đảng chư hầu cộng sản VN” chỉ là sự suy diễn, bịa đặt với “ ý đồ” khác mà thôi.
Là một người dân bình thường, tôi chỉ nói lên những gì mình suy nghĩ và mình cho đó là sự thật. Tôi không theo một trường phái hay đảng nhóm nào để mà nói tốt, nói hay cho bất cứ ai. Tôi chỉ nói đúng những gì người dân VN, trong đó có gia đình tôi đang được thụ hưởng từ cuộc sống thực tại ngày hôm nay. Và tôi cũng hy vọng rằng mọi người hãy nhìn nhận, đánh giá một cách toàn diện, thấu đáo, đừng vội vã cả tin theo những kẻ cố tình  bịa đặt, bóp méo sự thật để kích động, chia rẽ với dụng ý không lấy gì làm tốt đẹp.

Hay - dở đâu phải từ lời nói



@ Hoàng Long
Cuộc sống hôm nay thật thú vị, tương đối dư thừa về vật chất, đời sống tinh thần được nâng lên gấp bội phần. Dường như mọi cái đang diễn ra như trong mơ vậy, dù xa xôi đến mấy, cả nửa vòng trái đất muốn gặp gỡ cũng thấy bình thường,  nói chuyện trực tiếp với nhau qua mạng internet, khoảng cách trong không gian  như ngắn lại, con người xích lại gần nhau hơn trong khoảng không gian đó, không những trao đổi thông tin mà còn được nhìn thấy nhau trực tiếp, gầy béo đều biết cả không thể “dấu diếm” được. Hôm rồi đọc được một bài báo về tuyển nhân sự của một công ty nước ngoài, bộ phận phỏng vấn tuyển nhân sự họ không sang Việt Nam mà trực tiếp phỏng vấn qua mạng internet, nghe ra câu chuyện thật khó hiểu nhưng lại là việc làm hết sức bình thường hiện nay. Chỉ có điều con người có biết tận dụng khả năng tuyệt vời của công nghệ thông tin vào công việc mình đang làm hay không. Trên thực tế hiện nay nhiều người đã biết tận dụng cơ hội này để tiếp cận nghiên cứu tri thức, trau dồi cho bản thân vươn lên trong cuộc sống. Trước đây những người như chúng tôi lấy đâu ra điều kiện tốt như bây giờ. Sung sướng nhất là được tiếp cận nhiều luồng thông tin, chúng ta có thể đọc, tham khảo trong kho tàng phong phú vô tận trên mạng để vận dụng vào việc học hành, công việc hàng ngày của mỗi người. Vấn đề ở chỗ ta lấy nguồn thông tin ấy ở đâu, bởi lẽ trên đó có thể nói là tạp phế lù, thật - giả lẫn lộn, nếu chúng ta không nhận thức đúng thì rất dễ lầm tưởng, đọc nhiều rất dễ bị “nó” chi phối, dẫn tới ngấm những thứ đó lúc nào không hay, tạo thành dòng suy nghĩ thiên lệch khó điều chỉnh. Mới đây thôi tôi tình cờ đọc được bài viết của tác giả CTV Danlambao  với tiêu đề “Cú lừa "ngoạn mục" của CS” trân trọng chia sẻ những dòng suy tư tới độc giả để cùng suy ngẫm.
Phải nói rằng, theo dõi vụ việc sảy ra ở Đồng Tâm ngay từ đầu, nên những tình tiết sự việc mới được sáng tỏ sau Công bố dự thảo kết luận thanh tra quản lý, sử dụng đất tại Đồng Tâm, theo đó rất nhiều tình tiết được chỉ ra đúng trình tự của pháp lật. Từ dự thảo kết luận đó, người dân như chúng tôi thấy rằng để xảy ra bất ổn ở Đồng Tâm thời gian qua do rất nhiều nguyên nhân, nhưng tựu chung lại có mấy nguyên nhân cơ bản sau:
(1) Trong quá trình quản lý về dân cư và trật tự xây dựng, UBND xã Đồng Tâm đã buông lỏng quản lý để các hộ dân xây dựng không phép trên đất quốc phòng. Mặt khác, từ năm 2003 đến năm 2010, UBND xã Đồng Tâm đã xác nhận các hồ sơ thừa kế, cho, tặng, chuyển nhượng của các hộ dân đang sử dụng đất quốc phòng là trái thẩm quyền và vi phạm pháp luật về quản lý đất đai. Qua giải quyết đơn thư, UBND Thành phố đã chỉ đạo xử lý nghiêm các vi phạm của lãnh đạo các phòng chuyên môn của UBND huyện Mỹ Đức, lãnh đạo và cán bộ UBND xã Đồng Tâm. Đến nay, đã kỷ luật về Đảng đối với 19 cá nhân có sai phạm (8 người bị xử lý kỷ luật khai trừ đảng, 6 người bị Cảnh cáo, 5 người bị Khiển trách); kỷ luật về Chính quyền 14 người: cảnh cáo 12 người, khiển trách 1 người và buộc thôi việc 1 người. Công an huyện Mỹ Đức đã khởi tố 14 bị can, bắt tạm giam 2 đối tượng để phục vụ công tác điều tra.
(2) Tháng 2-2017, một số công dân tự ý tổ chức đo đạc, phân lô trên phần diện tích đất Tập đoàn Viễn thông Quân đội đang thực hiện dự án quốc phòng trong diện tích đất sân bay Miếu Môn, mặc dù, UBND xã Đồng Tâm đã có thông báo nêu rõ đây là đất quốc phòng, đề nghị các công dân không được vi phạm pháp luật, nhưng trong các ngày từ 25 đến ngày 28-2-2017, một số công dân vẫn cố tình đưa máy móc vào để chia đất, xây dựng công trình trái phép là hành vi chiếm đất quốc phòng, coi thường pháp luật, vi phạm nghiêm trọng Khoản 1, Điều 12 Luật Đất đai năm 2013.
          (3) Đối với 3 nội dung kiến nghị của ông Lê Đình Kình và một số công dân xã Đồng Tâm, đã được Thanh tra thành phố làm rõ. Theo đó: không có diện tích 59ha đất nông nghiệp xứ đồng Sênh như công dân nêu, diện tích đất sân bay Miếu Môn thuộc địa giới hành chính xã Đồng Tâm chỉ có 64,11ha, là đất quốc phòng; đề nghị trả tiền bồi thường về đất khi GPMB khu đất 14 hộ dân đang sử dụng đất quốc phòng cho nhân dân xã, là không có cơ sở.
Cũng từ kết quả thanh tra, Đoàn thanh tra  kiến nghị UBND thành phố có văn bản đề nghị Bộ Quốc phòng nghiêm túc kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm đối với đơn vị, cá nhân trực tiếp quản lý sân bay Miếu Môn để xảy ra những sai sót nêu tại kết luận; chỉ đạo các Sở, ban, ngành có liên quan, UBND huyện Mỹ Đức và UBND xã Đồng Tâm kiểm điểm, rút kinh nghiệm về những thiếu sót nêu tại kết luận, rà soát kỹ để xây dựng lại phương án bồi thường hỗ trợ cho các hộ dân, trường hợp phát hiện có vi phạm về đất đai thì xử lý nghiêm theo quy định pháp luật. Đồng thời giao UBND huyện Mỹ Đức phối hợp với các đơn vị quốc phòng có biện pháp cương quyết buộc những công dân đang chiếm giữ trái phép đất quốc phòng di chuyển tài sản, hoa màu, trả lại mặt bằng cho Tập đoàn Viễn thông Quân đội để thực hiện xây dựng các công trình quốc phòng; đồng thời chỉ đạo Công an Thành phố phối hợp với Cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng để điều tra làm rõ, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức và cá nhân có liên quan đối với quản lý, sử dụng đất quốc phòng xây dựng sân bay Miếu Môn thuộc địa giới hành chính xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức.
Việc công bố kết luận dự thảo thanh tra ở Đồng Tâm là quá rõ ràng, đúng người, đúng tội, tuân thủ theo pháp luật, ấy vậy mà tác giả dấu danh tính CTV Danlambao lại lớn tiếng nói xạo rằngTrong dịp này các quan thanh tra cũng đóng luôn vai trò "công tố viên" đề nghị đám Côn an thành phố cùng với Cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng xử lý nghiêm các cá nhân vi phạm. Điều này có hàm ý "đảng ta" sẽ truy cùng đuổi tận những "cá nhân sử dụng đất quốc phòng" - tức là những người dân đã đứng lên bảo vệ đất trong biến cố Đồng Tâm vừa qua”. Chưa dừng lại ở đó, còn dùng lời lẽ mánh khóe, nói sai sự thật để kích động lòng người hòng cố kiết vớt vát “đổ thêm dầu vào lửa” như đúng rồi “Liệu người dân sẽ đồng lòng đứng lên để giữ đất của mình và Đồng Tâm một lần nữa lại dậy sóng vì thái độ lật lọng của Nguyễn Đức Chung và thủ đoạn cướp đất có văn bản thanh tra của tập đoàn cường hào ác bá và đám quân đội bám bờ - buông súng - kiếm tiền?”. Ai kiếm tiền cơ chứ? hay chính tác giả đang lợi dụng vụ việc để kiếm chác những đồng tiền nhơ bẩn từ bài viết đầy dụng ý xấu của mình bởi những kẻ ngoại bang chu cấp để mong chờ tiếp tục có sự bất ổn ở Đồng Tâm sau công bố kết luận thanh tra. Và đây hãy nghe những lời bộc bạch từ đáy lòng của Cụ Lê Đình Kình “Quan điểm của tôi nói về một cá nhân, Chủ tịch UBND TP.Hà Nội Nguyễn Đức Chung. Trong thời gian tôi bị chấn thương và đưa ra ngoài đấy thì đồng chí cũng có những cái hết sức quan tâm, mà thậm chí là có những cái điểm sức khỏe khi mà tôi đang ở nút thắt mà đồng chí quan tâm chăm sóc, theo dõi giúp đỡ tôi để vượt qua những cơn hiểm nghèo thì có thể nói đối với tôi, ông Nguyễn Đức Chung là ân nhân cứu mạng, và đối với nhân dân xã Đồng Tâm, đồng chí đã về trực tiếp giải cứu con tin, làm bản cam kết, thì đây đã thể hiện rõ tình cảm và trách nhiệm của đồng chí Chủ tịch UBNDTP đối với nhân dân xã Đồng Tâm” là minh chứng rõ ràng nhất để bác đi tất cả những gì trong bài viết của tác giả CTV Danlambao bịa đặt, hư cấu với dụng ý đánh lừa dư luận thiếu thông tin. 

CÀNG BÔI HƯƠNG, TRÁT PHẤN, CÀNG LỘI MẶT XẤU, PHẢN ĐỘNG





J.B Nguyễn Hữu Vinh có bài viết: Hội nhà báo Độc lâp Việt Nam: “Ba năm, một chặng đường” và được các trang mạng phản động nhanh chóng đăng và các cá nhân tự xưng là nhà đấu tranh cho tự do ngôn luận, tự do báo chí tán dương, PR.
Ở bài viết này, J.B Nguyễn Hữu Vinh đã ra sức biện minh cho sự ra đời, vai trò,… của cái gọi là “Hội Nhà báo Việt Nam độc lập”(!) Tuy nhiên, càng “bôi hương, trát phấn”, thì cái gọi là “Hội nhà báo Việt Nam độc lập” càng lộ mặt xấu, phản động, phản dân hại nước.
          Cái gọi là “Hội Nhà báo Việt Nam độc lập” có được tổ chức theo đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam không? Không, hoàn toàn không. Nó chỉ là một tập hợp một số cá nhân cơ hội chính trị, bất mãn, thậm chí có những hành động vi phạm pháp luật, đi ngược lại lợi ích của dân tộc, nhân dân ta. Có thể điểm mặt ra đây một cá nhân điển hình, như: Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy, Bùi Minh Quốc, Đỗ Thị Minh Hạnh, Huỳnh Công Thuận, Anton Lê Ngọc Thanh, Phạm Đình Trọng, Vũ Thị Phương Anh, Nguyễn Tường Thụy, Ngô Nhật Đăng, Châu Văn Thi, Vũ Sỹ Hoàng, Huyền Trang, Phạm Thành, Trương Minh Đức, Huỳnh Ngọc Chênh, Nguyễn Văn Thạnh, 
Phan Thanh Hải, Phạm Bá Hải, Huỳnh Trọng Hiếu, v.v.
          Việt Nam là một nước dân chủ, mọi hoạt động của các tổ chức, công dân ở Việt Nam đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Chương II, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, năm 2013, với 35 điều ( từ Điều 14 đến Điều 49 đã hiến định rõ quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Trong đó, Điều 25, quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Hiện nay, trên căn cứ của Hiến pháp, các quyền nêu trên của công dân được quy định ở các bộ luật, luật khác nhau. Riêng các luật về tổ chức hội, biểu tình vẫn đang được cơ quan chức năng soạn thảo, xin ý kiến các chuyên gia và nhân dân, chưa được Quốc hội xem xét, thông qua, ban hành. Như vậy,  việc Nguyễn Hữu Vinh nói: “Lập Hội - quyền của dân” là một sự mập mờ, nhằm đánh lận con đen, lừa bịp nhân dân. Sự ra đời, hoạt động của cái gọi là “Hội Nhà báo Việt Nam độc lập” là bất hợp pháp, không đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật.
          Từ khi ra đời đến nay, cái Hội này đã móc nối với các trang mạng phản động, thâm thù với Việt Nam, với tổ chức phản động trong và ngoài nước, như: BBC, RFA, VOA, tổ chức khủng bố Việt Tân, Phóng viên không biên giới, Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW),… để xuyên tạc lịch sử, tình hình đất nước, đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách và pháp luật Nhà nước, bôi nhọ hình ảnh lãnh tụ, v.v. Gần đây nhất, Phạm Chí Dũng (kẻ tự xưng là Chủ tịch của cái gọi là Hội Nhà báo Việt nam độc lập), Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Tường Thụy, Nguyễn Hữu Vinh,… liên tục có những bài viết xuyên tạc tình hình đất nước, ca ngợi những kẻ vi phạm pháp luật, tố cáo Nhà nước Việt Nam vi phạm tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng và tôn giáo, kêu gọi nhân dân đứng lên biểu tình, đấu tranh giành “tự do, dân chủ”, đòi thực hiện chế độ dân chủ theo kiểu phương Tây, lật đổ sự cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì thế bản thân Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy, Nguyễn Hữu Vinh,… đã bị cơ quan chức năng nhiều lần xử lý theo quy định pháp luật.
          Đúng là càng bôi hương trát phấn, thì chúng càng lộ rõ bộ mặt phản dân, hại nước.

HÀNH XỬ CHÂN TÌNH, THẲNG THẲN, THƯỢNG TÔN PHÁP LUẬT







@ Minh Quân 
Ngày 07-7-2017, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Nguyễn Đức Chung cùng với đoàn công tác đã xuống Mỹ Đức để công bố Dự thảo kết luật thanh tra việc quản lý, sử dụng đất quốc phòng tại thôn Hoành, xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội và những vấn đề liên quan.
Có thể nói rằng, đây là một bản báo cáo khách quan, đúng sự thật, chỉ rõ việc vi phạm của một số cá nhân, tổ chức trong việc quản lý, sử dụng đất quốc phòng thời gian qua. Đặc biệt, Chủ tịch Nguyễn Đức Chung đã có bài phát biển chân tình, thẳng thắn, thương tôn pháp luật. Qua đó, Chủ tịch kêu gọi nhân dân thôn Hoành, xã Đồng Tâm gìn giữ và phát huy truyền thống yêu nước, cần cù, sáng tạo, thượng tôn pháp luật trong lao động, sản xuất và cuộc sống, chấp hành nghiêm các quy định pháp luật; đồng thời, những cá nhân đã vi phạp pháp luật nếu ăn năn, hối cải, có hành vị khắc phục những vi phạm của mình sẽ được khoan hồng.
Về nguồn cơn của sự việc, Chủ tịch Nguyễn Đức Chung chỉ rõ: “Sự việc đáng quan tâm là từ năm 2012, khi giao đất cho Viettel mới xuất hiện việc lấn chiếm”. Ông cho rằng, sự lấn chiếm đất quốc phòng này là bởi, “có một nhóm người kích động để mong muốn đòi quyền lợi, có sự gian dối để kích động”. Sự khẳng định này, được Chủ tịch khẳng định “Với tài liệu tôi có được, và chính cụ Kình cũng thừa nhận điều này, v.v. Tài liệu các cụ cung cấp,… cũng tố cáo các cụ vào lấn chiếm đất quân đội”.
Về đất quốc phòng. Chủ tịch khẳng định: Khu sân bay Miếu Môn là đất quốc phòng được quản lý theo quy định của pháp luật.  Ông chỉ rõ: “không có đất nông nghiệp ở đồng Sênh”, “toàn bộ sân bay Miếu Môn là đất quốc phòng”; “không có diện tích 59 ha đất nông nghiệp xứ đồng Sênh như công dân nêu, diện tích đất sân bay Miếu Môn thuộc địa giới hành chính xã Đồng Tâm chỉ có 64,11 ha, là đất quốc phòng”. Còn việc quản lý, sử dụng đất quốc phòng như thế nào đều phải tuân thủ quy định pháp luật, theo yêu cầu của nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo đảm an ninh quốc gia. Ông khẳng định: “người dân, luật sư, kể cả cá nhân ông cũng không được phép đòi hỏi đất quốc phòng sử dụng vào việc gì, vì sao bỏ không, vì điều này thuộc về an ninh quốc gia”. Vì sao vậy? Đó là vì: “Dân biết, kẻ thù biết thì đất nước ta phòng thủ thế nào được”. Chính vì thế, “đừng hỏi “cùn” để lý sự, che lấp âm mưu khác”.
Về xử lý những tập thể, cá nhân có hành vi quản lý, sử dụng đất quốc phòng chưa đúng quy định pháp luật, Chủ tịch cũng khẳng định rõ: “Thanh tra kiến nghị Ủy ban nhân dân Thành phố có văn bản đề nghị Bộ Quốc phòng làm rõ trách nhiệm với đơn vị, cá nhân trực tiếp quản lý sân bay Miếu Môn để xảy ra sai sót trong thời gian qua. Thanh tra cũng đề nghị Công an Thành phố phối hợp với Cơ quan Điều tra hình sự Bộ Quốc phòng xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức và cá nhân trong việc quản lý, sử dụng đất quốc phòng xây dựng sân bay Miếu Môn. Chính quyền huyện Mỹ Đức, xã Đồng Tâm cũng phải kiểm điểm về những thiếu sót liên quan, có biện pháp cương quyết buộc những công dân đang chiếm giữ trái phép đất quốc phòng di chuyển tài sản, hoa màu, trả mặt bằng cho doanh nghiệp quân đội để xây dựng các công trình quốc phòng”.
Một vấn đề mà dự luận rất quan tâm là về một số cá nhân luật sư, trong đó có Luật sư Trần Vũ Hải. Chủ tịch Nguyễn Đức Chung tâm sự: “Hôm nay, tôi đề nghị anh Hải (Luật sự Trần Vũ Hải) và nhóm luật sư này các anh là những người hiểu biết pháp luật, phải có trách nhiệm tuyên truyền pháp luật cho nhân dân thấy cái đúng cái sai”. Rồi Ông khẳng định: “Tôi xin thưa với anh Hải, ai là người đi bảo vệ đất nước, ai là người cho chúng ta sống trong bình yên? Ai hiểu mảnh đất này để không là không có giá trị? Trên thế giới tất cả đất thuộc về an ninh quốc phòng, tại sao nước Mỹ để cả một bang để trống cho quốc phòng?  Bây giờ các anh bảo quân đội không sử dụng phải trả cho dân, xin lỗi anh cái giá phải trả cho nền độc lập tự do là thế nào? Mà các anh bảo quân đội phải trả. Quân đội không bắt buộc phải chứng minh cho người dân chúng tôi phải làm gì trong đó. Mà các anh không được phép hỏi, thậm chí cấp nào mới được biết chứ không phải giải thích cho các anh đất làm gì? Các anh không có quyền đó, bởi đó là an ninh quốc gia, dân tộc ta có bao triệu con người phải hy sinh để bảo vệ nền độc lập đó. Đất này dùng cho quốc phòng, là để chúng ta phòng thủ, không có nghĩa công bố cho người dân biết mà phải có những gì thuộc bí mật quốc gia thì cũng không cần phải thông báo cho cả làng cả dân biết, thậm chí đến cấp tôi cũng không biết nó là cái gì. Quân đội đặc công vẫn đeo ngụy trang đầy mình nhưng nhô lên cái thấy một người trong lòng đất,… hay các bác thấy chiến tranh ở một loạt nước cả sân bay ở Nam Tư bên dưới là ngầm hết… làm sao người ta phải công bố cho dân biết. Dân biết để kẻ thù biết thì đất nước ta phòng thủ thế nào được? Các bác đừng đi hỏi lấy điều mà có lẽ cho phép tôi nói từ gần dân nhất, “cùn” để che lấp đi những âm mưu khác. Chúng ta nên thẳng thắn. Toàn bộ tài liệu ngày 22/4 còn đó, hình ảnh cụ Kình ra phất cờ còn đó… tất cả còn đó, tất cả còn nguyên giá trị. Tôi nhắc lại một điều trong cuộc đối thoại hôm 22/4 bà con xã Đồng Tâm, thôn Hoành tất cả chúng ta phải thượng tôn pháp luật, lấy pháp luật làm trọng và chúng ta phải chấp hành và quyền của mọi người là quyền được cung cấp tài liệu, quyền được kiến nghị, được giải đáp nhưng phát biểu phải có giới hạn. Tôi rất mong muốn một lần nữa tôi biết anh Hải rất am hiểu luật pháp, tường tận từ những mặt trong một xã hội rất mong muốn với luật sư bảo vệ những điều gì đem lại giá trị cuộc sống, giá trị bền vững, giá trị luật pháp chứ không phải là những giá trị mà anh đem lại để ngày mai người ta ghi nhận anh là một luật sư khác. Chúng tôi tôn trọng nghề nghiệp các anh nhưng các anh phải hoàn toàn tuân thủ”.
Đây là một buổi nói chuyện chân tình, thẳng thắn, thượng tôn pháp luật. Người Việt ta có câu: “NÓI CÓ SÁCH, MÁCH CÓ CHỨNG” và “NÓI PHẢI, CỦ CẢI CŨNG NGHE”. Chủ tịch nguyễn Đức Chung đã thực hành rất xuất sắc những lời vàng ngọc ấy của người Việt ta. Vì thế, dư luận cũng tin chắc rằng đại đa số những người con của thôn Hoành, xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, cũng như dư luận nhân dân cả nước đồng tình ủng hộ. Và cũng tin rằng, những tập thể, cá nhân nào quản lý, sử dụng đất quốc phòng sai pháp luật sẽ bị xử lý đúng quy định. Đặc biệt, bộ mặt thật của những kẻ tự xưng là “nhà dân chủ”, “nhà đấu tranh cho dân quyền”,… nhâu nhâu vào về mảnh đất này để kích động, phá hoại đã lộ rõ; các âm mưu, thủ đoạn làm loạn của chúng sẽ bị chính nhân dân bác bỏ.

BẢN ÁN CHO “MẸ NẤM” VỚI “TIÊU CHUẨN KÉP” VỀ NHÂN QUYỀN

https://www.facebook.com/LotMatDanChuGiaHieu/posts/452228685171131

Chủ Nhật, 10 tháng 12, 2017

HỌ ĐANG BÓP MÉO LỊCH SỬ (Bài 3)






MỐI QUAN HỆ GIỮA NGUYỄN ÁI QUỐC
VỚI PHAN BỘI CHÂU VÀ PHAN CHÂU TRINH

                                       Văn Thành


     1. Đọc các trang mạng từ trước tới nay, thấy xuất hiện những bài viết xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ vĩ nhân, như bài “Hồ Chí Minh bán đứng Phan Bội Châu cho thực dân Pháp trên đất Trung Hoa năm 1925” của Mường Giang; bài “Những sự thật không thể chối bỏ (Phần 8) – Ai đã bán đứng cụ Phan Bội Châu” của Đặng Chí Hùng...; rằng, “kẻ bán tin cho Pháp bắt Phan Bội Châu để lấy tiền thưởng là Lâm Đức Thụ và Lý Thụy (bí danh của Hồ Chí Minh lúc đó)” (bài của Mường Giang). Bài của Đặng Chí Hùng dẫn lời trong một cuốn sách của người nước ngoài, cho rằng, “ông Hồ Chí Minh với bí danh Lý Thụy lúc đó đã bán đứng cụ Phan cho nhà cầm quyền thực dân Pháp lấy tiền”. Đặng Chí Hùng lại dẫn ra một cuốn sách khác cũng của người nước ngoài viết, “rằng, Nguyễn Ái Quốc đã nhận 150 nghìn đồng bạc Đông Dương từ Pháp và bán cụ Phan”. Rồi Đặng Chí Hùng dẫn ra những nhận định của người này, người kia để chứng minh cho việc Lý Thụy đã bán đứng cụ Phan Bội Châu cho Pháp. Đây toàn là những việc hồ đồ, vu vơ, không có thật, nhằm vu khống, bôi nhọ hình ảnh Nguyễn Ái Quốc, hạ thấp uy tín của Nguyễn Ái Quốc trong cuộc hành trình của Người đi tìm đường cứu nước.
     Ở đây, tôi chưa bàn đến Lâm Đức Thụ (Nguyễn Công Viễn), một phần tử cơ hội, phản bội trong tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, gọi tắt là Thanh niên) mà Nguyễn Ái Quốc và những người lãnh đạo của Hội đã khai trừ ông ta ra khỏi tổ chức.
     Về nguyên nhân cụ Phan Bội Châu bị bắt đã rõ ràng. Số là, vào năm 1912, tại Quảng Đông, Trung Quốc, Phan Bội Châu đứng ra thành lập “Việt Nam Quang phục Hội”, một tổ chức yêu nước, chống Pháp, để thay thế cho Duy Tân Hội và tiến cử Kỳ ngoại hầu Cường Để (Nguyễn Phúc Đan) làm Chủ tịch Lâm thời của Việt Nam Quang phục Hội.
     Sau khi được thành lập, Việt Nam Quang phục Hội cử một số hội viên về nước để trừ khử một số viên chức Pháp và cộng sự đắc lực của Pháp, nhằm “thức tỉnh hồn quốc dân”. Tại Việt Nam lúc này, các cuộc bạo động bằng tạc đạn do Việt Nam Quang phục Hội thực hiện, tuy xảy ra lẻ tẻ, nhưng vẫn khuấy động được dư luận trong và ngoài nước. Sự kiện này đã làm cho chính quyền Đông Pháp theo dõi sít sao và tăng cường khủng bố, làm nhiều người bị bắt và bị giết. Bị kết án chủ mưu, Phan Bội Châu và Cường Để bị thực dân Pháp và Nam triều kết án tử hình vắng mặt. Năm 1913, chính quyền Đông Pháp cử người đến Quảng Đông, gặp Tổng đốc Quảng Đông lúc bấy giờ là Long Tế Quang, yêu cầu Long Tế Quang bắt Phan Bội Châu và các yếu nhân lúc ấy đang ở Quảng Đông. Ngày 24-12-1913, Phan Bội Châu bị bắt, nhưng  được một số người Việt Nam có uy tín và thiện chí lúc ấy đang hoạt động ở Quảng Đông, can thiệp, cho nên Long Tế Quang không thể giao nộp Phan Bội Châu cho Pháp. Chính quyền Pháp tức tối việc Long Tế Quang không chịu giao nộp Phan Bội Châu cho Pháp, cho nên đã cử nhiều mật thám Pháp sang Quảng Đông lùng bắt cho bằng được Phan Bội Châu, nhưng rút cục, Pháp vẫn chưa bắt được Phan Bội Châu.
     Được trả lại tự do, Phan Bội Châu tiếp tục hoạt động yêu nước. Năm 1922, phỏng theo đường lối của Quốc dân Đảng Trung Hoa, đứng đầu là Tôn Trung Sơn, Phan Bội Châu cải tổ Việt Nam Quang phục Hội thành Đảng Quốc dân Việt Nam. Mật thám Pháp tại Quảng Đông lúc bấy giờ vẫn theo dõi và dò la tung tích của Phan Bội Châu. Cuộc săn lùng Phan Bội Châu đã mang lại kết quả: Ông bị Pháp bắt tại Thượng Hải, ngày 30-6-1925, mặc dù trước đó (1912), Ông đã bị chính quyền Đông Pháp kết án vắng mặt. Phan Bội Châu bị giải về nước. Ngày 23-11-1925, Hội đồng Đề hình của Pháp tại Hà Nội xử Phan Bội Châu án khổ sai chung thân và muốn đưa ra giam tại Côn Đảo, nhưng vì có sự phản ứng quyết liệt của quốc dân đồng bào, cho nên ngày 25-12-1925, Toàn quyền Đông Dương Varenne, phải ký lệnh ân xá cho Phan Bội Châu và giam lỏng Cụ tại Bến Ngự, Huế. Nhờ có số tiền 2 nghìn đồng bạc Đông Dương do đồng bào cả nước quyên góp ủng hộ Phan Bội Châu, hai nhà chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng và Võ Liêm Sơn đã mua hai khoảnh đất tại Bến Ngự, Huế để xây nhà cho Phan Bội Châu ở và làm nghĩa trang cho Phan Bội Châu sau khi Ông mất. 
     Trong những năm cuối đời, Phan Bội Châu tuy bị quản thúc, vẫn miệt mài viết văn, làm thơ để cổ động cho tinh thần yêu nước của nhân dân ta chống xâm lược, nên “Ông già Bến Ngự” vẫn được nhân dân yêu mến.
     Phan Bội Châu mất ngày 29-12-1940 (Canh Thìn), tại Huế, thọ 73 tuổi (Cụ sinh ngày 26-12-1867 (Đinh Mão), tại làng Đan Nhiễm, xã Nam Hòa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An).
     Khi Phan Bội Châu bị nhà cầm quyền Quảng Đông bắt lần thứ nhất (năm 1913), tại Quảng Đông, thì Nguyễn Ái Quốc (lúc này, Người chưa lấy tên là Lý Thụy như có người đã ngộ nhận) đang lênh đênh trên mặt biển trong cuộc hành trình đi tìm đường cứu nước. Người đi sang tận các nước châu Phi để quan sát tình hình và đến Luân Đôn, thủ đô nước Anh, vào cuối năm 1913. Ngày 3-12-1917, Người từ nước Anh trở lại nước Pháp và lần đầu tiên Người đến thủ đô Paris. Người ở Paris từ năm 1917 đến năm 1923, thì tới Liên Xô… Trong thời gian này, nhà yêu nước và cách mạng Nguyễn Ái Quốc cũng là nạn nhân của sự truy lùng gắt gao của chính quyền Đông Pháp, đến nỗi Người phải liên tục thay đổi họ, tên để tránh sự truy lùng đó.
     Khi Phan Bội Châu bị Pháp bắt lần thứ hai tại Thượng Hải vào năm 1925, thì Nguyễn Ái Quốc đang ở Quảng Châu, mở lớp huấn luyện cho các thanh niên yêu nước Việt Nam, chuẩn bị về chính trị, tư tưởng, tổ chức cho việc ra đời một chính đảng cách mạng ở Việt Nam.
     Khi nghe tin Phan Bội Châu bị Pháp bắt, Nguyễn Ái Quốc viết một bài báo dài, tố cáo gay gắt nhà cầm quyền Đông Pháp bắt giam Phan Bội Châu và đòi Pháp phải thả ngay nhà yêu nước Phan Bội Châu. Bài báo này được đăng trên tờ Le Paria (Người cùng khổ), số ra tháng 9 và tháng 10-1925. Bài báo ca ngợi Phan Bội Châu là “bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, được 20 triệu con người (dân số Việt Nam lúc bấy giờ là 20 triệu - VT) trong vòng nô lệ tôn sùng…”1.
     Sự thật là như vậy. Nhưng một số người ác ý, cố tình xuyên tạc, bóp méo lịch sử, vu khống cho Nguyễn Ái Quốc bán đứng Phan Bội Châu cho Pháp. Kẻ bôi nhọ lịch sử sẽ phải chuốc lấy những hậu quả khôn lường.
     2. Trong cuộc hành trình đi tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc có mối quan hệ rất tốt với Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh, đánh giá các cụ là những nhà yêu nước thương nòi. Người nói rằng, Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh tuy chưa phải là đồng chí, nhưng lại là đồng bào của chúng ta. Quan hệ giữa Nguyễn Ái Quốc với Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh là quan hệ của thế hệ yêu nước trước với thế hệ của bậc yêu nước sau. Khâm phục lòng ái quốc của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh, nhưng Nguyễn Ái Quốc cho rằng, chủ trương cách mạng của các cụ sẽ không đánh đổ được chế độ thực dân Pháp ở Đông Dương, trong khi đó, vấn đề đặt ra cho nhân dân Việt Nam lúc bấy giờ là phải đánh đổ chế độ thực dân Pháp ở Đông Dương. Quan điểm dựa vào đế quốc này để đánh đế quốc kia thống trị Đông Dương và quan điểm thuyết phục chính quyền Đông Pháp thay đổi chính sách, cải cách hệ thống quan lại Nam triều mục nát, tham nhũng và bất lực, mở rộng dân chủ và nâng cao dân trí với ý định là khi dân trí được nâng cao, tinh thần tự cường tốt, thì Việt Nam sẽ mạnh lên, và khi đó, đất nước sẽ giành được độc lập, đều không mang lại kết quả, vì chính quyền Đông Pháp lúc bấy giờ không bao giờ chấp nhận những chính sách gây nguy cơ đe dọa đến việc cai trị thuộc địa của họ, cho nên chủ trương đó không mang lại thành công. Vì vậy, vấn đề đặt ra lúc bấy giờ là phải phát huy được tinh thần yêu nước và đoàn kết của nhân dân, lấy hai giai cấp cơ bản của cách mạng là công nhân và nông dân làm lực lượng nòng cốt, do Đảng Cộng sản lãnh đạo, phải làm cuộc cách mạng toàn diện và triệt để, thì mới có thể đánh đổ được đế quốc xâm lược Việt Nam và phong kiến Nam triều. Còn trong quá trình cách mạng, thì phải tùy theo từng hoàn cảnh, từng thời kỳ, giai đoạn mà có thể kết hợp giữa đấu tranh chính trị, quân sự với ngoại giao, nhưng phải lấy đấu tranh vũ trang là chủ yếu để giành chính quyền về tay nhân dân. Nguyễn Ái Quốc đã làm được điều này và đã thành công.
     Phan Bội Châu cũng rất khâm phục tinh thần yêu nước và cứu nước của Nguyễn Ái Quốc. Phan Bội Châu đã có cái nhìn đúng về Nguyễn Ái Quốc. Ở vùng Nghệ An lúc bấy giờ, người ta đã lưu truyền câu sấm của Trạng Trình: “Đụn Sơn phân giải/ Bò Đái thất thanh/ Nam Đàn sinh thánh” (Khi núi Đụn nứt ra làm đôi/ khe Bò Đái mất tiếng/nước sông Lam chảy vào chân núi Lam Thành/ đất Nam Đàn sẽ sinh ra bậc thánh nhân). Sau khi có cao trào cách mạng Xôviết Nghệ Tĩnh năm 1930-1931, câu sấm này lại được nhắc lại trong dư luận người dân miền Trung. Lúc đó, khe Bò Đái cũng đã ngừng chảy và không còn tiếng suối reo và núi Đụn cũng nứt ra, làm cho mọi người càng tin và chờ đợi sẽ xuất hiện vị thánh nhân ở vùng này. Chuyện kể rằng, có lần nhà sử học Đào Duy Anh và nhà nho Trần Lê Hữu đến thăm cụ Phan Bội Châu lúc ấy đang an trí tại Huế. Hai nhà trí thức có hỏi cụ Phan Bội Châu, rằng: “Thưa cụ Phan, “Bò Đái thất thanh, Nam Đàn sinh thánh” chẳng phải là vận vào Cụ hay sao?”. Phan Bội Châu trả lời: “Kể cái nghề cử tử xưa kia, tôi cũng có tiếng thật. Dân ta thường trọng người văn học và gán cho người ta tiếng nọ, tiếng kia. Nhưng nếu Nam Đàn có thánh thực, thì chính là ông Nguyễn Ái Quốc, chứ chẳng phải ai khác”2. Qua đó, thấy rằng, Phan Bội Châu rất trân trọng Nguyễn Ái Quốc, cho dù cụ Phan là bậc cha chú của Nguyễn Ái Quốc.
     Với cụ Phan Châu Trinh cũng vậy. Tuy Cụ cũng là bậc cha chú của Nguyễn Ái Quốc, nhưng Cụ rất tôn trọng những chính kiến của Nguyễn Ái Quốc. Nguyễn Ái Quốc gặp cụ Phan Châu Trinh tại Paris vào khoảng năm 1918 và những năm sau, sau khi Nguyễn Ái Quốc từ Luân Đôn, Anh đến Paris, Pháp.
     Trong thời gian Nguyễn Ái Quốc ở Paris, thì xảy ra việc Pháp đánh Nga. Sự kiện này, gây xôn xao dư luận nước Pháp. Báo chí Pháp cập nhật đưa tin về việc Pháp đánh Nga. Phái chủ chiến Clêmăngsô gào to: “Đánh!”, “Đánh!”. Phái chủ hòa như các nghị sĩ Mácsen Casanh, Alếchxăngđrơ, Écnét Laphông, Briđông,… thì hô lớn: “Đả đảo chiến tranh!”. Tin tức binh lính Pháp phản chiến giội về Paris, gây xúc động mạnh trong nhân dân Pháp. Lúc ấy, có người thợ máy Việt Nam tên là Tôn Đức Thắng làm việc trên tàu Phơrăngxơ, dũng cảm kéo lá cờ đỏ trên tàu, tỏ rõ ý chí ủng hộ nước Nga Xôviết. Việc làm có tính chất nghĩa cử của nhà hoạt động quốc tế – cách mạng Tôn Đức Thắng trên biển Đen năm 1919, thật phù hợp với hoạt động của Nguyễn Ái Quốc phản đối nhà cầm quyền Pháp không được tiến công nước Nga. Biển Đen – Paris, một khoảng trời, hai con người Việt Nam, tuy chưa một lần gặp mặt, nhưng đều có chung một cảm tình với nước Nga cách mạng. Tình cảm của Nguyễn Ái Quốc đối với nước Nga cách mạng luôn luôn chân thành và mãnh liệt. Người muốn mở rộng tầm nhìn, từ chỗ muốn giải phóng một dân tộc đến chỗ muốn giải phóng cả nhân loại cần lao. Người muốn đổi mới thế giới bằng việc ủng hộ nước Nga cách mạng. Đi trên đường phố Paris, Người tâm sự với một người bạn Pháp tên là Giắc Đuyclô: “Giắc ơi, cách mạng Nga đang bị tấn công. Nhưng nó sẽ chiến thắng mọi kẻ thù!”3. Lời tiên đoán của Nguyễn Ái Quốc được chứng minh là đúng khi đoàn chiến hạm Pháp rút khỏi Xêvátxtôpôn vào ngày 21-4-1919 để trở về Pháp, chấm dứt cuộc can thiệp vào nước Nga.
     Năm 1919, Người cùng với một số nhà yêu nước Việt Nam tại Pháp, ký bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” tới Hội nghị Vécxây, đòi quyền dân sinh, dân chủ cho nhân dân Việt Nam.
     Nghĩ đến cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc luôn luôn hướng về đất nước Việt Nam yêu dấu của mình. Nhân sự kiện Vécxây và sự kiện các nước đế quốc tấn công nước Nga cách mạng, Nguyễn Ái Quốc càng nghĩ đến Tổ quốc Việt Nam. Làm thế nào để đưa nhân dân nước mình thoát khỏi cảnh lầm than, được giải phóng, được làm người, đúng với nghĩa của nó? Câu hỏi này làm Người trăn trở. Người nhiều lần mang vấn đề giải phóng Tổ quốc Việt Nam ra bàn bạc, trao đổi với một số người Việt Nam lúc ấy như Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Khánh Ký,… Trong cuộc đàm luận ngày ngày 19-12-1919, Nguyễn Ái Quốc phàn nàn việc nhà cầm quyền Pháp ở Đông Dương tiếp tục chính sách ngu dân, bằng cách không cho mở mang trường học. Theo Người, chừng nào nhân dân Đông Dương không được hưởng nền giáo dục bắt buộc và báo chí không được tự do nói lên một điều suy nghĩ, thì việc giáo hóa các dân tộc Đông Dương không thể tiến hành một cách hiệu quả, nhanh chóng, và vì vậy, đời sống tinh thần của họ sẽ không được cải thiện. Nguyễn Ái Quốc than vãn với Phan Châu Trinh, rằng, tại sao 20 triệu đồng bào chúng ta lại không làm gì để buộc Chính phủ Pháp phải trả lại cho chúng ta quyền làm người. “Chúng ta là người, chúng ta phải được đối xử như con người. Tất cả những ai không muốn coi chúng ta như đồng loại với họ, những người bình đẳng với họ, đều là kẻ thù của chúng ta. Chúng ta không được chung sống với họ trên cùng một trái đất này”4.
     Khác với quan điểm của Nguyễn Ái Quốc, quan điểm của Phan Châu Trinh thiên về cải lương, cho rằng, liệu đồng bào ta sẽ làm gì được, “khi trong tay không có vũ khí chống lại những súng ống khủng khiếp của người Âu”5. Vẫn giữ quan điểm như năm 1906 đã công bố, Phan Châu Trinh muốn đưa nhân dân Việt Nam vào nền văn minh, ngang hàng với Nhật Bản, bằng cách “đấu tranh nói”, đề nghị Chính phủ Đông Pháp “có chế độ nhân quyền để cứu vớt dân chúng ra khỏi sự lộng hành và lạm quyền do sự chuyên chế của quan lại và viên chức Pháp mà họ là nạn nhân; cải tổ thôn, xã, làm sao ngăn ngừa được các hào lý không lộng hành và lạm quyền trên lưng người dân. Cuối cùng là thay thế các quan lại già bằng những người trẻ từng được tiếp thụ học vấn trong các nhà trường Pháp, đồng thời, lại biết chữ nho”6.
     Phan Châu Trinh khao khát một cuộc cải cách không đổ máu ở Đông Dương. Nhưng nhà ái quốc ấy cũng tiên đoán rằng, rồi đây, máu sẽ chảy, dân Đông Dương sẽ chết vì bạo lực sẽ xảy ra. Ông nắm chắc điều đó và cũng đau xót về điều đó.
     Nguyễn Ái Quốc phê phán mạnh mẽ quan điểm “đấu tranh bằng lời” của Phan Châu Trinh. Người cho rằng, dân tộc ta phải chờ đợi sự thay đổi đã 60 năm nay. Nhưng Chính phủ Pháp không những không đáp ứng được sự thỉnh cầu của nhân dân, mà còn trả lời họ bằng roi vọt, lưỡi lê, máy chém, súng đạn, nhà tù, lưu đày và tử hình. Người thưa với Phan Châu Trinh: “Nếu Bác luôn luôn tin cậy vào sự quan tâm của Chính phủ (Pháp) để cải thiện mọi tình trạng hiện nay, thì Bác phải đợi đến muôn đời”7. Trước mặt Phan Châu Trinh, Nguyễn Ái Quốc căm phẫn tố cáo chế độ thực dân Pháp ở Đông Dương: “Khi người ta không muốn đối xử với chúng ta như những con người, thì thật là vô ích, khi phải sống hèn hạ và bị lăng nhục trên trái đất này. Chừng nào người ta tước mất của chúng ta quyền công dân và chính trị, thì người ta vẫn tiếp tục coi chúng ta như kẻ thù, như nô lệ”8. Nguyễn Ái Quốc khẳng định rằng, với chủ nghĩa thực dân, chúng ta không thể ngồi “bàn suông” về một sự giải phóng. Vấn đề là phải tổ chức nhân dân đấu tranh. Trước khí tiết của Nguyễn Ái Quốc và nghị lực phi thường của Người đã làm cho Phan Châu Trinh cảm động. Phan Châu Trinh ngày càng nhận rõ gương mặt của Nguyễn Ái Quốc. Cụ thấy mình đuối sức trong khi thấy trí tuệ của Nguyễn Ái Quốc ngày càng cường tráng. Sau này, vào năm 1922, Phan Châu Trinh viết thư cho Nguyễn Ái Quốc: “Cảnh tôi như hoa sắp tàn, hiềm vì quốc phá gia phong, mà hơi tàn cũng phải gào cho hả dạ, may ra có tỉnh giấc hôn mê. Còn Anh như cây đương lộc, nghị lực có thừa, dày công học hỏi, lý thuyết tinh thông. Tôi cầu chúc cho Anh thành công và hy vọng thấy mặt nhau ở quê hương xứ sở”9. Sự chia tay về con đường cứu nước với Phan Châu Trinh càng thúc đẩy Nguyễn Ái Quốc hoạt động hăng hái. Trước mặt Người là sự nghiệp giải phóng Việt Nam, Tổ quốc yêu dấu của Người và của nhân dân.
     Đấy, sự thật về con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh là như vậy. Tiếc thay, có một số người cố tình xuyên tạc lịch sử, bóp méo sự thật, làm cho người ta hiểu sai đi về nhà yêu nước và cách mạng Nguyễn Ái Quốc. Vì vậy, cần phải lên án những người cố tình bôi nhọ lịch sử.
     Có một nhà thông thái đã viết: “Nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục, thì tương lai sẽ bắn vào anh bằng đại bác”10.
------   
1. Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 185.
2. Website: VTC News, ngày 30-9-2015.
3. G.Đuyclô: Những ngày Paris, in trong cuốn “Bác Hồ ở Pháp”, Nxb Văn học, Hà Nội, 1970, tr.25.
4. Báo cáo của mật thám Pháp Êđua (Edouard) về Nguyễn Ái Quốc năm 1919, Tạp chí Lịch sử Đảng, số tháng 3-1983, tr.65,66,67.
5. Báo cáo của mật thám Pháp Êđua (Edouard) về Nguyễn Ái Quốc năm 1919, đã dẫn.
6. Báo cáo của mật thám Pháp Êđua (Edouard) về Nguyễn Ái Quốc năm 1919, đã dẫn.
7. Báo cáo của mật thám Pháp Êđua (Edouard) về Nguyễn Ái Quốc năm 1919, đã dẫn.
8. Báo cáo của mật thám Pháp Êđua (Edouard) về Nguyễn Ái Quốc năm 1919, đã dẫn.
9. Trích “Thư của Phan Châu Trinh gửi Nguyễn Ái Quốc”, ngày 18-12-1922. Tài liệu lưu trữ tại Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng.
10. Raxun Gamzatốp: Đaghextancủatôi, quyển 1, Nxb Cầu Vồng (Liên Xô), năm 1984, tr. 9.


HỌ ĐANG BÓP MÉO LỊCH SỬ (Bài 2)


 
CHỦ NGHĨA CẢI LƯƠNG Ở VIỆT NAM HỒI ĐẦU THẾ KỶ XX

           PGS,TS Đàm Đức Vượng


     1. Đấu tranh để giành lại nước bằng con đường cải lương trong lúc cách mạng chưa giành được chính quyền sẽ không bao giờ mang lại độc lập cho dân tộc. Kinh nghiệm này được xem như một quy luật của cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc. Đừng tưởng rằng, chế độ thực dân ở Đông Dương trả lại nền độc lập cho Việt Nam một cách dễ dàng. Trong cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc quyết liệt, nếu dựa vào đế quốc này để đánh đế quốc kia cũng chỉ là ảo tưởng, vì các nước đế quốc lớn đánh nhau xong, rồi lại họp nhau lại để chia chác thị trường thế giới và phân công nhau thống trị các nước thuộc địa và phụ thuộc nhỏ bé.
     Chủ nghĩa cải lương là trào lưu chính trị bên trong của phong trào công nhân nhằm đấu tranh giành những cải cách nhỏ bé, không động đến cơ sở của chế độ bóc lột, thay thế cho cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống chủ nghĩa tư bản; phủ nhận tính tất yếu của đấu tranh giai cấp, của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, có thể nói, chủ nghĩa cải lương là một trong những biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội, gắn với chủ nghĩa cơ hội và hệ tư tưởng cơ hội hữu khuynh của chủ nghĩa cải lương. Chủ nghĩa cơ hội là “anh em sóng đôi” với chủ nghĩa cải lương. Chủ nghĩa cơ hội là chủ nghĩa đầu hàng, thỏa hiệp với đế quốc, một khuynh hướng trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước, đặt quyền lợi của dân tộc phụ thuộc vào quyền lợi của giai cấp bóc lột. Cũng như chủ nghĩa cải lương, cơ sở xã hội của chủ nghĩa cơ hội là tầng lớp “công nhân quý tộc”. Chủ nghĩa cơ hội xuất hiện và phát triển vào thời kỳ phát triển hòa bình của chủ nghĩa tư bản, thời kỳ trước tư bản lũng đoạn. Ở giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, chủ nghĩa cơ hội phát triển nhanh và trở thành khuynh hướng thống trị trong các đảng chính trị của Quốc tế II. Tới Chiến tranh thế giới thứ nhất, chủ nghĩa cơ hội phát triển thành chủ nghĩa sôvanh nước lớn. Trong cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc, những người cộng sản, một mặt, đã lãnh đạo cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cải lương, mặt khác, chủ trương lôi kéo những phần tử tích cực trong chủ nghĩa cải lương và chủ nghĩa cơ hội vào cuộc đấu tranh chung của dân tộc chống chủ nghĩa đế quốc và áp bức dân tộc.
     Chủ nghĩa cải lương không có một thế giới quan hoàn chỉnh và thống nhất. Họ tuyên bố phép biện chứng đã lỗi thời, không đếm xỉa gì đến chủ nghĩa duy vật, coi chủ nghĩa xã hội là cái không có thực trong đời sống xã hội, tuyên truyền thuyết tiến hóa tầm thường.    
     Chủ nghĩa cải lương ra đời từ 25 năm cuối thế kỷ XIX và lan nhanh sang đầu thế ký XX. Nó đối lập với học thuyết đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác – Lênin. Hồi cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa cải lương đã lan ra khắp ra các nước tư bản và các nước thuộc địa, phụ thuộc. Cơ sở xã hội của nó là tầng lớp trên của giai cấp công nhân (“công nhân quý tộc”), các tầng lớp trung gian và giới quan liêu trong các công đoàn. Quốc tế thứ hai lúc đầu là Quốc tế cách mạng, sau trở thành tổ chức quốc tế của chủ nghĩa cải lương.
     Những người cải lương đưa ra “lý luận” hợp tác giai cấp, hòng đem giai cấp công nhân và nhân dân lao động phục tùng chế độ tư bản và chế độ thống trị của chúng ở các nước thuộc địa. Họ đưa ra “lý luận” chủ nghĩa xã hội dân chủ, tức là đem nhập chủ nghĩa tư bản vào chủ nghĩa xã hội để đối lập với học thuyết cải tạo xã hội bằng cách mạng. Những người cải lương hy vọng nhờ một số cải cách nhỏ nhoi mà có thể biến chủ nghĩa tư bản và ách thống trị của chủ nghĩa thực dân ở các nước thuộc địa thành một xã hội “thịnh vượng chung”. Vấn đề đặt ra là nếu không cải tạo cách mạng đối với xã hội, thì không một cuộc câch nào, có thể mang lại sự giải phóng dân tộc và có thể tạo ra chủ nghĩa xã hội.
     Chủ nghĩa Mác – Lênin đã bóc trần bản chất tư sản của các thứ lý luận cải lương và hoạt động của những người cải lương trong cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc quyết liệt để lấy lại nước và thiết lập chính quyền cách mạng. Đây không phải là vấn đề bảo thủ, “cố hữu” như một số người do nhận thức sai trái đã rêu rao, vu khống, mà là vấn đề nhận thức quan điểm cách mạng của những người cộng sản hồi đầu thế kỷ XX.
     Những người cộng sản chân chính đã luôn luôn và kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cải lương dưới mọi hình thức. Họ không phủ nhận rằng, dưới chế độ tư bản chủ nghĩa và dưới ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, đảng của giai cấp công nhân cần phải đấu tranh giành những cải cách nhất định để cải thiện tình hình kinh tế, chính trị và văn hóa của dân tộc mình, nhưng họ chỉ coi những cải cách ấy là những kết quả phụ của cuộc đấu tranh giai cấp, mà mục đích cơ bản là phải thay thế xã hội tư bản và xã hội thực dân, phong kiến bằng xã hội xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, trong cuộc đấu tranh giai cấp, những người cộng sản sẵn sàng chủ trương hợp tác với các đảng xã hội dân chủ trong cuộc đấu tranh cho hòa bình, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.  
     Ở đây, cũng cần phải nhận thức cho đúng giữa chủ nghĩa cải lương và vấn đề cùng tồn tại hòa bình có khác nhau. Cùng tồn tại hòa bình là vấn đề có tính nguyên tắc quan hệ giữa các nước có chế độ xã hội đối lập. Nguyên tắc này đòi hỏi phải từ bỏ chiến tranh, xem đó như một phương tiện để giải quyết những vấn đề tranh chấp. Trong cuộc đấu tranh để giành chính quyền về tay nhân dân, cách mạng không thể thắng cùng một lúc ở tất cả các nước. Vì vậy, trong một thời gian lịch sử nhất định, có thể kéo dài, trên thế giới không thể tránh khỏi có những nước tư bản chủ nghĩa cùng tồn tại bên cạnh các nước xã hội chủ nghĩa, lấy đó làm chính sách đối ngoại của nhà nước mình cả trong điều kiện hiện nay. Cùng tồn tại hòa bình, đòi hỏi không được can thiệp vào công việc nội bộ của các dân tộc, phải tôn trọng chủ quyền của các quốc gia, phải phát triển những quan hệ kinh tế, văn hóa giữa các nước. Tồn tại hòa bình không có nghĩa từ bỏ đấu tranh vũ trang trong trường hợp nước khác tấn công nước mình, muốn dùng vũ khí để áp đặt sự thống trị của họ lên nước mình. Mọi dân tộc đều có quyền cầm vũ khí chống xâm lược và bóc lột. Tồn tại hòa bình cũng đòi hỏi phải có cả đấu tranh chính trị trên vũ đài quốc tế. Tồn tại hòa bình không mở rộng sang lĩnh vực tư tưởng.
     2. Chủ nghĩa cải lương xuất hiện tại Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX khi chủ nghĩa cơ hội chạy đua vào để giải quyết vấn đề xã hội theo quan điểm của họ.
     Ngay từ năm 1911, khi Nguyễn Tất Thành (Văn Ba) xuống tàu biển ra đi tìm đường cứu nước. Trên tàu, Anh đã gặp một phần tử quốc gia cải lương tên là Bùi Quang Chiêu, kỹ sư canh nông, vào làng Tây, đi tàu hạng nhất cùng với gia đình ông ta đưa con sang học tại Pháp. Trông thấy Văn Ba, Bùi Quang Chiêu gọi Anh lại và thân mật bảo: “Tại sao con lại làm cái nghề khó nhọc này? Bỏ nghề này đi. Con nên chọn một nghề khác, danh giá hơn,…”1. “Anh Ba lễ phép cảm ơn ông Chiêu, nhưng không nói đồng ý hay không”2. Trong khi các phần tử cải lương và cơ hội chưa dứt lời tụng ca chế độ dân chủ có khả năng ngăn ngừa được chiến tranh, mà đất nước vẫn giành được độc lập, tự do, thì cục diện chính trị thế giới hồi đầu thế kỷ XX nổi lên những cơn bão táp cách mạng, mà nổi bật nhất là Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917. Khẩu hiệu chiến lược cách mạng của V.I.Lênin: “Giai cấp công nhân tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức liên hiệp lại!”3 có sức lan tỏa rộng tới phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và phụ thuộc trong đó có Việt Nam.
     Trong tác phẩm “Đường cách mệnh” (năm 1927), nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc nhận định chủ nghĩa cải lương ở Việt Nam chỉ có thể giúp chính đảng, chứ không thể hợp với chính đảng4.
     Trên mặt trận chính trị và tư tưởng, quan điểm cứu nước của Nguyễn Ái Quốc đã đẩy lùi quan điểm cải lương, tư tưởng dân tộc hẹp hòi và chiếm ưu thế trong phong trào cách mạng Việt Nam. 
     Con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc khác với con đường của các nhà yêu nước tiền bối. “Đó là con đường dân tộc độc lập và dân chủ, tự do của những người Việt Nam yêu nước nồng nàn, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với nhân dân”5. Con đường ấy hoàn toàn khác với con đường cải lương mà một số người đã đi.
     Chủ nghĩa cải lương ở Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX, biểu hiện: (1) Cải cách xã hội trong khuôn khổ của chế độ thực dân Pháp ở Đông Dương, thay thế cho cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta chống chủ nghĩa thực dân và chế độ phong kiến Nam triều. (2) Dựa vào chế độ Đông Pháp để đánh đổ triều đình Nguyễn. (3) Họ không quan tâm đến lợi ích của nhân dân lao động, mà chỉ vun vén cho các tầng lớp trên. (4) Về thành phần cứu nước, họ không nói gì đến giai cấp công nhân và giai cấp nông dân cơ bản, mà chỉ hướng về giai cấp tiểu tư sản, tầng lớp quan lại và trí thức. (5) Trên trường chính trị, họ muốn điều hòa giai cấp, hợp tác giai cấp, hòng đem nhân dân lao động phục vụ quyền lợi của giai cấp thống trị. (6) Việc chủ trương dựa vào đế quốc này để đánh đổ đế quốc kia cũng là một biểu hiện của chủ nghĩa cải lương.
     Rồi kết cục ra sao? Những người theo chủ nghĩa cải lương và ảnh hưởng của chủ nghĩa cải lương cũng bị thực dân loại bỏ. Những người đi con đường Đông du, rút cục bị trục xuất ra khỏi nước Nhật do Pháp và Nhật lúc bấy giờ câu kết với nhau để thanh toán những nhà yêu nước Việt Nam trong cuộc hành trình Đông du. Những người chủ trương cải cách xã hội trong khuôn khổ của chế độ Đông Pháp, rút cục, cũng bị vô hiệu hóa. Chủ nghĩa cải lương sụp đổ. Nhà yêu nước Phan Bội Châu bị chính quyền Đông Pháp cho “an trí” tại Huế. Nhà yêu nước Phan Châu Trinh cũng bị nhà cầm quyền Đông Pháp kiểm soát. Nhiều nhà yêu nước chân chính khác bị chính quyền Đông Pháp bắt giam hoặc bị giết. Có người lúc đầu theo xu hướng cải lương, sau lại trở thành nhà yêu nước như Phan Châu Trinh. Cụ Phan Bội Châu sục sôi tinh thần cứu nước, nhưng vẫn không cứu được nước.
     Quan điểm của Nguyễn Ái Quốc lúc này là dân tộc Việt Nam muốn được độc lập, tự do thật sự, các dân tộc bị áp bức phải trông cậy trước hết vào lực lượng của bản thân mình, người Việt Nam phải tự giải phóng lấy mình, đem sức ta mà tự giải phóng cho ta. Kết luận ấy có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, nó soi sáng con đường đấu tranh cách mạng, động viên nhân dân ta tiến lên vì sự nghiệp cứu nước. Trên thực tế, đi con đường của Nguyễn Ái Quốc, nhân dân ta đã giành được thắng lợi hoàn toàn trong cuộc đấu tranh chống xâm lược và chống chủ nghĩa cải lương. Đất nước được độc lập như ngày hôm nay.
      Đảng Cộng sản Việt Nam, sau đó là Đảng Cộng sản Đông Dương, lúc bấy giờ rất cảnh giác với chủ nghĩa cải lương, chủ nghĩa cơ hội dưới mọi hình thức. Đảng nhận định lúc bấy giờ đất nước ta xuất hiện một bộ phận “ra mặt quốc gia cải lương, chúng nó muốn lợi dụng phong trào cách mạng, một mặt thì yêu cầu với đế quốc cải lương chánh trị và kinh tế để thêm quyền lợi riêng của chúng nó (xin lập hiến, xin khai khẩn đất ruộng,v.v.), một mặt thì hô hào tư bổn và vô sản bản xứ hợp tác và làm bộ yêu cầu cải cách sanh hoạt của công nông. Mục đích của chúng nó là cốt lừa gạt quần chúng và phá hoại c.m (cách mạng). Trong giai cấp tiểu tư sản thì những bọn bị áp bức nhứt đã bắt đầu theo phong trào c.m (cách mạng), một phần nữa thì theo ảnh hưởng quốc gia cải lương”6.
     Cuộc đấu tranh của nhân dân ta chống chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa cải lương đã giành được thắng lợi, khi toàn dân đoàn kết một lòng, chiến đấu dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân tộc gắn với thời đại là mục tiêu mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định ngay từ khi mới thành lập và được nhân dân đồng tình ủng hộ, mang lại thắng lợi vẻ vang.