Chủ Nhật, 28 tháng 9, 2014

Một tiếng nói công bằng và khách quan về nhân quyền Việt Nam

QĐND - Ngày 7-4-2014 vừa qua, ngài Eni Falemavaega, Hạ nghị sĩ, thành viên cao cấp của Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ ra tuyên bố đánh giá cao tình hình nhân quyền của Việt Nam, nhất là Báo cáo rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ hai của Nhà nước Việt Nam tại Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, ngày 8-2-2014 ở Giơ-ne-vơ, Thụy Sĩ.
Trong tuyên bố của mình, Hạ nghị sĩ Falemavaega đã khẳng định những thành tựu được nêu trong báo cáo UPR của Việt Nam, trong đó có việc bảo đảm các quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do lập hội, bảo đảm quyền của tù nhân và tự do tôn giáo, tín ngưỡng. Ngài Falemavaega cũng đánh giá cao nỗ lực của Việt Nam trong hợp tác quốc tế về nhân quyền, trong đó có việc Việt Nam có các cuộc đối thoại nhân quyền hằng năm với các đối tác như Mỹ và Liên minh châu Âu (EU)… Cùng ngày, Hạ viện Mỹ đã ra Văn bản ghi nhận toàn văn tuyên bố nêu trên của ngài Falemavaega làm tài liệu chính thức của Hạ viện.
Hơn 10.000 người (bao gồm các tăng ni, Phật tử) chắp tay thành kính trong giờ phút linh thiêng tiến hành lễ cầu quốc thái dân an và đại lễ cầu siêu do Đức pháp vương Gyalwang Drukpa cùng Tăng đoàn tiến hành cầu nguyện tại chùa Tây Thiên (huyện Tam Đảo, Vĩnh Phúc ngày 13-4) thể hiện sự tự do tôn giáo, tín ngưỡng tại Việt Nam. Ảnh: qdndonline.

Cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đi từ giành độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, xây dựng đất nước theo con đường XHCN trên thực tế là giành lấy các điều kiện và tiền đề chính trị để đi đến mục tiêu cuối cùng là vì độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Nói cách khác là vì quyền con người và quyền công dân. Trong gần 30 năm đổi mới, Việt Nam đã hội nhập với cộng đồng quốc tế về nhiều mặt trong đó có cơ chế bảo vệ quyền con người. Cho đến nay, Việt Nam đã ký kết, tham gia đầy đủ những công ước quốc tế cơ bản về quyền con người. Trong đó có “Công ước của Liên hợp quốc về chống tra tấn và trừng phạt hoặc đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo hoặc làm mất phẩm giá khác” (gọi tắt là Công ước Chống tra tấn).
Công cuộc xây dựng đất nước của nhân dân Việt Nam hiện nay đang phải đối diện với nhiều thử thách, cả chủ quan và khách quan. Không ít kẻ vì những lý do khác nhau vẫn bám giữ quan điểm chính trị trong thời kỳ chiến tranh lạnh, kỳ thị đối với chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa. Nhiều kẻ mưu toan lợi dụng vấn đề dân chủ và nhân quyền để phá hoại an ninh quốc gia, phá hoại quan hệ quốc tế của Việt Nam. Tuy nhiên, cộng đồng quốc tế đã công bằng và khách quan đánh giá tình hình nhân quyền Việt Nam.
Ngày 5-2-2014 theo cơ chế “Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát” (UPR) của Liên hợp quốc tại Giơ-ne-vơ (Thụy Sĩ), đại diện Chính phủ Việt Nam đã trình bày Báo cáo kiểm điểm định kỳ (chu kỳ 2) về tình hình nhân quyền Việt Nam. Nhiều ý kiến cho rằng, công tác chuẩn bị báo cáo; nội dung báo cáo đã thực hiện một cách nghiêm chỉnh các khuyến nghị từ Hội nghị kiểm điểm lần thứ nhất (2009). Báo cáo đã thực hiện nghiêm túc 96 khuyến nghị tại Hội nghị kiểm điểm định kỳ năm 2009. Trong năm 2013, Việt Nam đã có những cố gắng vượt bậc trên lĩnh vực quyền con người. Đặc biệt là lần đầu tiên quyền con người (cùng với quyền công dân) đã được quy định trong Chương II của Hiến pháp 2013. Có ý kiến đánh giá cao việc Việt Nam đã ký “Công ước chống tra tấn” là một trong những công ước quan trọng của quyền con người. Những năm qua Việt Nam đã đẩy mạnh hợp tác quốc tế, trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc; sẵn sàng đối thoại nhân quyền thường niên với các đối tác (trong đó có Hoa Kỳ) và luôn đóng góp tích cực vào cơ chế nhân quyền ASEAN...
Về phần mình, Việt Nam cam kết sẽ nỗ lực hơn nữa trong việc cải cách tư pháp, pháp luật; thúc đẩy quyền tự do ngôn luận, báo chí; tự do tôn giáo; mời thêm các Thủ tục Đặc biệt của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc tới Việt Nam và tăng cường hợp tác với các cơ chế nhân quyền của Liên hợp quốc, trong đó có các Cơ quan Công ước…
Điều đáng trân trọng trong tuyên bố của ngài Falemavaega vừa qua là ở chỗ, trong khi ở Hoa Kỳ vẫn còn có không ít người vì lý do khác nhau, chấp nhận nhiều thông tin cóp nhặt, xuyên tạc, sai trái về tình hình nhân quyền Việt Nam, vẫn còn giữ quan điểm kỳ thị đối với chế độ xã hội và Nhà nước Việt Nam trên lĩnh vực dân chủ và quyền con người, thì ngài Falemavaega với tư cách một chính khách Hoa Kỳ đã công khai, thẳng thắn nói lên tiếng nói công bằng, khách quan về tình hình nhân quyền Việt Nam. Trong phát biểu lần này, ngài  Falemavaega còn nói rõ trong nhiều chuyến thăm Việt Nam, ông đã từng tham dự nhiều sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam và thấy rõ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân Việt Nam đã được Nhà nước tôn trọng, bảo vệ và giúp đỡ...
Không phủ nhận rằng, quan điểm và thực tiễn trên lĩnh vực dân chủ và quyền con người giữa Việt Nam và Hoa Kỳ vẫn còn khoảng cách, nhưng để rút ngắn khoảng cách đó không thể là sự áp đặt quan điểm của quốc gia này cho quốc gia khác mà phải bằng đối thoại trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau, cầu thị, nhất là bằng những đóng góp thiết thực vào việc giải quyết những vấn đề nhân quyền cụ thể của mỗi quốc gia. Một trong những vấn đề lớn về nhân quyền giữa Việt Nam và Hoa kỳ đó là Hoa Kỳ cần phải có nhiều đóng góp hơn nữa giúp Việt Nam giải quyết hậu quả chất độc da cam/đi-ô-xin, giải quyết tình trạng ô nhiễm bom, mìn trên hàng triệu ki-lô-mét vuông. Trong quan hệ kinh tế, Hoa Kỳ đang là đối tác quan trọng của Việt Nam, nhất là các sản phẩm dệt may và thủy sản... Nếu thật sự vì nhân quyền cho người dân Việt Nam, thay vì tiếp tục gây khó khăn cho Việt Nam vì sự khác biệt nào đó trên lĩnh vực pháp lý liên quan đến một số cá nhân, Hoa Kỳ nên cân nhắc hạn chế đưa ra các rào cản kỹ thuật, áp thuế không công bằng đối với các sản phẩm Việt Nam, gây khó khăn cho hàng vạn lao động trong ngành nuôi trồng thủy sản và dệt may...
Quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ đang diễn ra tốt đẹp. Tuy nhiên, nhiều vấn đề vẫn còn đang ở phía trước. Trong bối cảnh Việt Nam đang giữ trọng trách là thành viên của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc, đặc biệt hiện nay ở Hoa Kỳ, không ít người vẫn còn giữ quan điểm kỳ thị, ứng xử không công bằng trên lĩnh vực nhân quyền đối Việt Nam, phát biểu của ngài Hạ nghị sĩ Falemavaega đáng được ghi nhận một cách trân trọng.
HÒA LỘC

Vạch trần cái gọi là "dân chủ", "nhân quyền" của các thế lực thù địch



Trong thời gian gần đây, các thế lực thù địch đã và đang tăng cường chống phá cách mạng nước ta bằng nhiều thủ đoạn tinh vi và quyết liệt. Cùng với các hoạt động phá hoại vào nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước Việt Nam, trên các phương diện khác, chúng đặc biệt chú trọng lợi dụng các trang mạng xã hội để tiến công ta.
Dưới chiêu bài "dân chủ, nhân quyền”, họ tự xưng mình là những người có "sứ mệnh" đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền Việt Nam. Vậy thực chất quan điểm chính trị của họ là gì? Họ thường xuyên đăng tải những thông tin sai trái, thù địch, bịa đặt những vấn đề "dân chủ, nhân quyền" nhằm nói xấu chế độ ở Việt Nam.
Trong thế giới hiện đại, dân chủ, nhân quyền được xem là giá trị chung của nhân loại. Các dân tộc không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển và bản sắc văn hóa đều có đóng góp nhất định vào giá trị chung đó. Về mặt lý luận cũng như thực tiễn đời sống chính trị quốc tế cho thấy, không có mô hình "chuẩn" về dân chủ, nhân quyền, mà chỉ có những mô hình cụ thể dựa trên những giá trị phổ quát được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế về quyền con người. Tương tự như quan hệ giữa "cái chung", "cái phổ biến" với "cái đặc thù", "cái đơn nhất" trong triết học, những giá trị phổ quát về dân chủ, nhân quyền chỉ có thể thông qua các mô hình chính trị - xã hội cụ thể để biểu hiện. Nói một cách đơn giản là, dân chủ, nhân quyền có nhiều mô hình, tùy thuộc vào điều kiện lịch sử, truyền thống và văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc. Điều này đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Thế nhưng, trên mạng xã hội hiện nay, có một số tổ chức, cá nhân tự nhận mình là "nhà dân chủ", sùng bái mô hình dân chủ, nhân quyền của phương Tây, coi đó là "chuẩn", là "mặc định". Từ đó, họ ra sức xuyên tạc, vu cáo, phủ nhận chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, nhằm hướng sự phát triển của đất nước ta theo mô hình dân chủ, nhân quyền của phương Tây.
Sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với những thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền của người dân trên tất cả các lĩnh vực chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa, giáo dục, tôn giáo, tự do tín ngưỡng... đã được khẳng định trong nhiều năm qua. Trong hầu hết các khuôn khổ đối thoại và hợp tác về quyền con người, về dân chủ, nhân quyền cả song phương lẫn đa phương, các nước và các đối tác quốc tế đều bày tỏ ghi nhận đối với những thành tựu Việt Nam đã đạt được, nhất là trong các lĩnh vực xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an ninh lương thực, an sinh xã hội, thực hiện tốt các Mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc (MDGs).
Theo Ủy ban Kinh tế - Xã hội châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP), Việt Nam đã hoàn thành khoảng 90% các chỉ tiêu MDGs; trong đó, đạt và vượt trước thời hạn 5 trong 8 mục tiêu và có thể cơ bản đạt hết các mục tiêu còn lại vào năm 2015. Việt Nam cũng đã tham gia Công ước Liên hợp quốc Chống tra tấn. Bảo đảm nhân quyền, dù ở quốc gia nào cũng phải là một quá trình và quá trình này ở Việt Nam luôn được cải thiện, từng bước tuân thủ theo Công ước Nhân quyền của Liên hợp quốc, theo đó, coi quyền con người là giá trị phổ quát, đồng thời cũng cần tính đến những đặc thù của mỗi dân tộc, mỗi khu vực và những hoàn cảnh lịch sử, văn hóa, tôn giáo khác nhau.
Thông điệp đầu năm 2014 của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng nhấn mạnh, quyền làm chủ phải đi đôi với trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân, mà trước hết là phải tuân thủ pháp luật. Mọi hạn chế quyền tự do của công dân phải được xem xét cẩn trọng và chủ yếu nhằm bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và những giá trị văn hóa, lịch sử, đạo đức tốt đẹp của dân tộc. Người dân có quyền làm tất cả những gì pháp luật không cấm và sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Không chỉ phủ nhận chế độ dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, các thế lực thù địch - những kẻ thường xuyên lợi dụng "dân chủ", "nhân quyền", tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại cách mạng Việt Nam còn ra sức tô vẽ, sùng bái mô hình "dân chủ, nhân quyền" của phương Tây. Họ tuyệt đối hóa các giá trị phổ quát về quyền con người theo mô hình của phương Tây, cố tình tảng lờ một số quyền con người sẽ bị hạn chế đã được ghi trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (năm 1966). Theo cách nói của họ, Nhà nước Việt Nam đã vi phạm quyền con người ở Điều 18 (Về quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo), Điều 19 (Về quyền tự do ngôn luận, báo chí), Điều 21, 22 (Về quyền hội họp hòa bình, quyền lập hội...) trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (năm 1966) mà Việt Nam đã ký kết. Tuy nhiên, họ không hề đề cập đến việc thực hiện những quyền nêu trên đều có thể bị hạn chế (trong pháp luật quốc gia) là vì "an ninh quốc gia, an toàn và trật tự công cộng, để bảo vệ sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng, hoặc các quyền và tự do của người khác". Gần đây, họ còn có "sáng kiến": Phát triển blog, hình thành "xã hội ảo", "công dân ảo" và sử dụng các trang mạng xã hội nhằm phát tán, thu gom, lưu trữ các bài viết. Qua đó, họ ra "Tuyên bố", lập bản "Kiến nghị", kêu gọi "ký tên"... ủng hộ các quan điểm cực đoan, sai trái. Chẳng hạn như: Tuyên bố 72 ra bản "kiến nghị" về sửa đổi Hiến pháp theo mô hình dân chủ đa nguyên, chế độ cộng hòa tổng thống; Tuyên bố về việc thực thi các quyền dân sự, chính trị, kêu gọi Nhà nước thực thi các quyền tự do, dân chủ theo các "chuẩn mực nhân quyền phổ quát" (không tính tới tính đặc thù, lịch sử và văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc); Tuyên bố 258, kêu gọi xóa bỏ Điều 258 (Về tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, Bộ luật Hình sự 1999 của Nhà nước ta)...
Gắn liền với những hoạt động trên, các nhà tự xưng là "dân chủ, nhân quyền" còn lợi dụng bầu không khí dân chủ của đất nước để thực hiện một số hoạt động "thực", như: Trao văn bản đến lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước, đến các cơ quan chức năng, thậm chí trao văn bản tới các đại sứ quán, lãnh sự quán nước ngoài và tổ chức quốc tế ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh... Để tránh sự trừng phạt của pháp luật, họ "lách luật" bằng cách lợi dụng quyền "phản biện" (thực chất là để phản bác, phủ nhận), tuyên bố "chỉ thực hiện các quyền con người về quyền tự do, dân chủ được ghi trong các Công ước quốc tế về quyền con người mà Nhà nước Việt Nam đã tham gia" và chỉ hoạt động "ôn hòa", "bất bạo động"... Thực tiễn đời sống chính trị quốc tế cho thấy, các cuộc bạo loạn, lật đổ chế độ xã hội hiện hữu thường bắt đầu bằng những hành động gọi là "bất bạo động", "ôn hòa" kiểu ấy. Do vậy, những hành vi vi phạm pháp luật của họ sẽ bị pháp luật trừng trị nghiêm minh.
Những hoạt động nói trên của những kẻ lợi dụng "dân chủ", "nhân quyền" cũng như của các thế lực thù địch chẳng qua chỉ là trò bịa đặt, "bóp méo sự thật". Hành động của họ chẳng lừa được ai, chắc chắn sẽ bị lên án, bác bỏ.
Nhìn lại những thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực bảo đảm dân chủ, nhân quyền, có thể khẳng định rằng, đó là những thành tựu to lớn, không thể phủ nhận được. Những "phát biểu", "điều trần" của cá nhân này, tổ chức nọ nhằm bóp méo tình hình nhân quyền ở Việt Nam chỉ là những tiếng nói lạc lõng, xa lạ với cộng đồng quốc tế. Nó đã, đang và tiếp tục bị cộng đồng quốc tế vạch trần, lên án.
Cảnh giác, đấu tranh vạch trần các quan điểm tư tưởng sai trái thù địch, bịa đặt, bóp méo sự thật cũng chính là sự khẳng định lập trường của Đảng và Nhà nước ta trước những biến động phức tạp trên thế giới và trong nước, từ đó củng cố nhận thức chính trị, giữ vững thế trận lòng dân, đưa sự nghiệp cách mạng tới thắng lợi hoàn toàn. Cùng với đó là phối hợp làm tốt công tác vận động quần chúng, tăng cường và nâng cao hiệu quả đầu tư, thực hiện tốt phong trào Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới, các tổ chức cựu chiến binh tích cực tham gia xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân, qua đó, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bồi đắp sự đồng thuận xã hội trong cộng đồng dân tộc, củng cố và tăng cường thế trận lòng dân vững chắc. Góp phần bồi dưỡng, nâng cao bản lĩnh chính trị cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân nâng cao cảnh giác cách mạng; tăng cường sức đề kháng và khả năng miễn dịch, làm thất bại mọi âm mưu "Diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam.
Đại tá, PGS, TS KHQS Trần Nam Chuân - Viện Chiến lược Quốc phòng - Bộ Quốc phòng

Cảnh giác với những thông tin kích động, chia rẽ

Lợi dụng những thiếu sót, khuyết điểm của một vài cấp chính quyền, cơ quan chức năng, đặc biệt là một số vụ án oan sai gần đây, một số trang blog, diễn đàn, facebook… đã núp bóng tự do ngôn luận để đưa tin, đăng tải những bài viết với những kiểu rút tít đầy kích động như: "Chính quyền "coi dân như kẻ thù" "; "Khi chính quyền bị dân quay mặt"; "Nhà nước đang chữa lửa bằng xăng dầu";….

Cần nói ngay rằng, tác giả của những bài viết ấy không dựa trên  các nguồn tin chính thống mà dựa vào những thông tin cóp nhặt để suy diễn, xuyên tạc, bóp méo sự thật nhằm mục đích chống phá Việt Nam. Phát tán các tin tức, bài viết ấy, những kẻ vô luân, vô trách nhiệm hoàn toàn không phải vì đáp ứng nhu cầu thông tin của bạn đọc, mà thực chất là nhằm mục đích kích động, âm mưu chia rẽ tình đoàn kết dân tộc. Mục tiêu lớn nhất mà họ hướng đến là chia rẽ mối đoàn kết giữa nhân dân với Đảng, chính quyền và cơ quan chức năng các cấp, tiến xa hơn là xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, lật đổ chính quyền nhân dân.
Chúng ta cần nhận thức rõ, trong bất cứ điều kiện hoàn cảnh nào, yêu cầu cao nhất của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa vẫn là khối đại đoàn kết dân tộc, mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa Đảng, chính quyền và nhân dân. Đó chính là cội nguồn sức mạnh, nhân tố quyết định đối với sự trường tồn và phát triển của đất nước chúng ta.
Những tiện ích mà internet đem lại cho nhân loại, trong đó có nhân dân Việt Nam là không thể phủ nhận. Nhưng với những kẻ cơ hội chính trị, phản động, thì internet được chúng coi là phương tiện số một để thực hiện những âm mưu và hành động chống phá Việt Nam. Chỉ có tinh thần cảnh giác cao độ, sự đồng lòng của toàn dân, cùng sự kiên quyết của các nhà quản lý chúng ta mới có thể tẩy chay, ngăn chặn được những trang mạng kiểu này.
AN QUỐC

Bài 3: Xây dựng môi trường đạo đức và văn hóa lành mạnh

(Tiếp theo và hết)
QĐND - Trước nguy cơ của cuộc “xâm lăng văn hóa” từ bên ngoài, vấn đề cấp bách hiện nay là chúng ta phải thường xuyên, tích cực bồi tụ, vun đắp, nâng cao sức “đề kháng văn hóa” cho các cấp, các ngành, toàn xã hội và mỗi người dân. Muốn vậy phải tạo ra môi trường đạo đức, văn hóa lành mạnh nhằm tăng cường khả năng phòng ngừa, bảo vệ, chống lại các sản phẩm văn hóa, thông tin độc hại xâm nhập vào nước ta.
Nhận rõ nguy cơ
Cách đây 4 năm, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 46-CT/TW về “Chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại gây hủy hoại đạo đức xã hội”, trong đó đã cảnh báo nghiêm khắc: “Môi trường đạo đức và văn hóa lành mạnh bị đe dọa nghiêm trọng, có nguy cơ dẫn tới khủng hoảng tinh thần, mất phương hướng lựa chọn các giá trị, lối sống và niềm tin của một bộ phận công chúng. Tình trạng đó đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến trật tự, an toàn, an ninh xã hội, dẫn đến khuynh hướng tự diễn biến về chính trị, tư tưởng, tác hại lâu dài đến các thế hệ mai sau”. Những cảnh báo nghiêm khắc đó đến nay vẫn chưa hề mất tính thời sự, hơn thế có vấn đề còn trở nên đáng báo động hơn.
Băng đĩa lậu tràn lan trên thị trường, trong đó ất nhiều băng đĩa có nội dung thiếu lành mạnh, phản văn hóa. Ảnh: PV
Văn kiện Đại hội XI (năm 2011) đã chỉ ra: “Môi trường văn hóa bị xâm hại, lai căng, thiếu lành mạnh, trái với thuần phong mỹ tục, các tệ nạn xã hội, tội phạm và sự xâm nhập của các sản phẩm và dịch vụ độc hại làm suy đồi đạo đức, nhất là trong thanh, thiếu niên, rất đáng lo ngại”.
Hội nghị toàn quốc tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) tổ chức đầu năm 2014, cũng chỉ rõ: “Đời sống kinh tế có bước phát triển nhưng đời sống văn hóa tinh thần chưa theo kịp, thậm chí một số mặt suy giảm. Hệ giá trị truyền thống nhiều mặt bị đảo lộn, chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền có xu hướng gia tăng, chi phối mạnh đến đời sống xã hội, gây hậu quả xấu đối với việc xây dựng con người”.
Theo GS, TS Trần Văn Bính, nguyên Trưởng khoa Văn hóa XHCN (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh): Những yếu kém, bất cập nêu trên bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, trong đó căn nguyên vừa sâu xa, vừa trực tiếp là do chúng ta chưa chuẩn bị chu đáo về tâm thế, bản lĩnh trước khi bước vào sân chơi toàn cầu, chưa đủ kiến thức và sự tỉnh táo cần thiết nên nhiều lúc, nhiều nơi, nhiều người đã bị choáng ngợp trước sự “xâm lăng mềm” về văn hóa từ bên ngoài mà vẫn thờ ơ, không hề hay biết.
Tăng cường sức mạnh nội sinh
Sức mạnh nội sinh là sức mạnh bên trong, có ý nghĩa sinh sôi, nảy nở, lan tỏa và phát triển không ngừng. Văn hóa với tư cách là “sức mạnh mềm” luôn có liên quan mật thiết đến sự trường tồn, thịnh suy, hưng vong của quốc gia dân tộc. Vì vậy, muốn phòng, chống hiệu quả nạn “xâm lăng văn hóa”, chúng ta phải tăng cường sức mạnh nội sinh cho dân tộc, kiên trì phương châm "xây kết hợp với chống", lấy "xây" làm chính, tạo ra một môi trường đạo đức văn hóa lành mạnh.
Đảng ta đã có những quan điểm đúng đắn về vị trí, vai trò, sức mạnh về văn hóa đối với công cuộc xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên trên thực tế, ở nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều nơi lại chưa quan tâm đúng mức đến việc củng cố, tăng cường “sức mạnh nội sinh”. Theo PGS, TS Nguyễn Hữu Thức, Vụ trưởng Vụ Văn hóa-Văn nghệ (Ban Tuyên giáo Trung ương), 15 năm qua (1998-2013), ngân sách dành cho lĩnh vực văn hóa và xây dựng các thiết chế cơ sở văn hóa rất thấp, chưa tương xứng với sự phát triển kinh tế-xã hội. Chi cho văn hóa ở nhiều địa phương chưa đảm bảo được tỷ lệ 1,8% tổng chi ngân sách địa phương như chính sách Nhà nước đã ban hành. Trong khi đó, hệ thống các thiết chế văn hóa từ Trung ương đến cơ sở nhiều nơi bị xuống cấp, bộc lộ bất cập, hiệu quả xã hội thấp, gây lãng phí.
Như vậy, đã có một nghịch lý xảy ra là, ngân sách đầu tư cho văn hóa đã rất thấp, mà nhiều thiết chế văn hóa sau khi được xây dựng lại không được khai thác, sử dụng hiệu quả. Thế nên, ở nhiều địa phương, người dân, nhất là thanh thiếu niên thiếu chỗ vui chơi, giải trí lành mạnh khiến họ phải tìm đến các trò chơi, hoạt động văn hóa “ngoài luồng”, gây ra bao hệ lụy tai hại mà chúng tôi đã đề cập.
Tại sao lại xảy ra tình trạng đó? Nói về vấn đề này, GS, TSKH Tô Ngọc Thanh, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam thẳng thắn bày tỏ: “Có một thực tế là chúng ta có rất nhiều nghị quyết có giá trị về văn hóa, nhiều cán bộ lãnh đạo nói rất hay về văn hóa, nhưng trên thực tế lại chưa thực sự chăm lo đến các hoạt động văn hóa. Nếu các cấp ủy, chính quyền thực sự quan tâm rốt ráo, vào cuộc quyết liệt thì tôi tin chắc rằng, công luận không phải kêu ca, than phiền quá nhiều về lối sống văn hóa đang xuống cấp, đời sống văn hóa còn nghèo nàn, tệ nạn xã hội vẫn diễn ra ở nhiều nơi như thời gian qua”.
Ở một khía cạnh khác, PGS, TS Lương Hồng Quang, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam cho rằng, việc tăng cường sức mạnh nội sinh cũng là tăng "sức đề kháng văn hóa” cho dân tộc. "Sức đề kháng văn hóa” có vai trò cực kỳ quan trọng đối với việc giữ gìn, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nếu "sức đề kháng văn hóa” non nớt, nhu nhược, yếu kém sẽ là “mảnh đất màu mỡ” cho các “vi-rút văn hóa” độc hại có cơ hội nảy sinh, lây lan, làm xói mói tâm hồn, cốt cách dân tộc. Ngược lại, "sức đề kháng văn hóa” mạnh sẽ góp phần bảo đảm cho văn hóa Việt Nam không những giữ gìn được gốc gác, cội nguồn, bản sắc của mình, mà còn có thể đẩy lùi, tiêu trừ, loại bỏ được các “tạp chất gây hại” cho môi trường văn hóa dân tộc.
PGS, TS Lương Hồng Quang nhấn mạnh: “Muốn có "sức đề kháng văn hóa” tốt, cùng với việc chăm lo lưu giữ những tinh hoa văn hóa, bản sắc dân tộc, chúng ta phải không ngừng làm giàu văn hóa của mình trước hết bằng cách xây dựng mỗi tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể và mỗi cơ quan, đơn vị, trường học là một “điểm sáng văn hóa”, mỗi cán bộ, đảng viên là một “chiến sĩ văn hóa” để làm “bộ lọc” giúp xã hội ngăn ngừa, phòng chống những luồng văn hóa độc hại từ bên ngoài”.
Xây dựng và bảo vệ văn hóa dân tộc là bảo vệ Tổ quốc
Có một nhận định rất chí lý: Mất đất, mất nước có thể lấy lại được, còn nếu văn hóa mất đi là mất luôn, mất vĩnh viễn. Cách đây ngót thế kỷ, đại văn hào M.Goóc-ki đã có một khuyến cáo rất đáng suy ngẫm: “Đối với tôi, lời kêu gọi Tổ quốc lâm nguy cũng không đáng sợ hơn lời kêu gọi: Hỡi các công dân! Văn hóa bị lâm nguy!”.
Văn hóa là một trong những yếu tố then chốt tạo nên sự hình thành, phát triển và trường tồn của mỗi quốc gia dân tộc. Trong thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay, việc bảo vệ nền văn hóa dân tộc, chống các hoạt động “xâm lăng văn hóa” càng có ý nghĩa cấp bách, quan trọng đối với sự ổn định, trường tồn của quốc gia. Nghị quyết số 28/NQ-TW (khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong hình mới” của Đảng vừa ban hành mới đây, đã xác định: Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc phải đi đôi với việc kiên quyết ngăn chặn sự xâm lăng văn hóa, xâm nhập các sản phẩm văn hóa xấu độc và thông tin độc hại. Đây là một trong 6 nhiệm vụ-giải pháp lớn để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới.
Trong vòng xoáy của cơn lốc toàn cầu hóa, do sự tác động của chủ nghĩa thực dụng, lối sống “văn hóa tiêu dùng phương Tây” đã và đang dẫn đến nguy cơ đồng nhất về văn hóa, lối sống và làm cho con người, nhất là thế hệ trẻ dễ bị thay đổi thói quen, thị hiếu thiên về giải trí lai căng. Theo GS Nguyễn Đức Bình, nguyên Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương: Không riêng ở Việt Nam, mà nhiều quốc gia, trong đó có nước phát triển như Pháp cũng rất lo ngại về tình trạng này. Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Pháp từng lên tiếng cảnh báo: “Văn hóa không phải là một thứ hàng hóa thông thường. Mối nguy cơ thực sự chính là quan điểm kiểu Mỹ về văn hóa, theo đó văn hóa cũng là một thứ hàng hóa thông thường. Chúng ta phải đấu tranh chống lại “thương mại hóa” ngày càng gia tăng đối với hoạt động của con người, không cho nền công nghiệp giải trí Mỹ vốn đã đạt được hiệu quả chính trị trên thị trường của họ, giờ đây lại chiếm lĩnh nốt mọi không gian sáng tạo của các nền văn hóa khác”.
Trước diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, những mặt trái của quá trình toàn cầu hóa và nhất là âm mưu, thủ đoạn chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng-văn hóa, đòi hỏi chúng ta phải huy động cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành và toàn xã hội cùng chung tay góp sức bồi đắp, tăng cường sức mạnh nội sinh để tạo điểm tựa chắc chắn cho vị thế, sức sống và sức mạnh văn hóa Việt Nam luôn vững vàng trong “thế giới phẳng” hiện nay. Đó cũng là giải pháp hữu hiệu bảo đảm cho những giá trị, tinh hoa của dân tộc không bị pha trộn, mất gốc hay đồng hóa trước hiểm họa “xâm lăng văn hóa”.
THIỆN VĂN

Sức mạnh nội sinh phòng, chống "xâm lăng văn hóa" (bài 2)

(Chính trị) - Trên thị trường văn hóa đang phát tán, trôi nổi nhiều sách, báo, tranh, ảnh, phim, băng đĩa… có nội dung lai căng, độc hại, đồi trụy.
Bài 2: “Gió lành” chưa thổi bạt “gió độc”
Theo ông Nguyễn Quang Huy, Trưởng phòng Tổng hợp và Phối hợp liên ngành (Cục quản lý thị trường- Bộ Công Thương), các văn hóa phẩm độc hại thường đi theo hai đường chính: Từ bên ngoài “tuồn” vào trong nước và phát sinh, phát tán ngay trong nội địa.
Đại tá Vũ Thành Trung, Phó trưởng phòng Tham mưu tổng hợp (Cục Trinh sát – Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng) cho biết: Trong 3 năm qua (2011-2013), các lực lượng chức năng của Bộ đội Biên phòng đã phát hiện, thu giữ 13.111 cuốn sách, 4.955 tài liệu, 5.174 VCD có nội dung độc hại, phản động. Bên cạnh việc nhập lậu trái phép các văn hóa phẩm độc hại, một số người lợi dụng danh nghĩa đi du lịch, tham quan, thăm thân để vận chuyển văn hóa phẩm có nội dung xấu vào nước ta. Tinh vi hơn, họ cất giấu trong các thiết bị, ổ nhớ (USB, các loại đĩa DVD, VCD, CD Rom…) rồi cho vào trong lõi của những loại hàng hóa được phép nhập cảnh để dễ bề “qua mắt” các lực lượng chức năng của ta.
Từ đầu năm 2010 đến giữa tháng 3-2014, thông qua quy trình làm thủ tục hải quan, tiến hành kiểm tra hàng hóa, hành lý và phương tiện vận tải tại các tuyến hàng không, bưu điện quốc tế, tuyến biên giới đường bộ, cảng biển, cảng sông quốc tế, lực lượng hải quan cả nước đã phát hiện, thu giữ hơn 3.100 tài liệu có nội dung tuyên truyền chống phá Nhà nước, văn hóa phẩm độc hại, bản đồ vi phạm chủ quyền Việt Nam từ nước ngoài nhập khẩu trái phép vào Việt Nam. Theo nhận định của ông Nguyễn Phi Hùng, Cục trưởng Cục Điều tra chống buôn lậu (Tổng cục Hải quan – Bộ Tài chính), số lượng các tài liệu có nội dung xấu, văn hóa phẩm độc hại mà ngành Hải quan phát hiện, bắt giữ trong mấy năm qua có xu hướng gia tăng. Điều đó cho thấy tình hình vận chuyển trái phép các tài liệu, văn hóa phẩm độc hại vào Việt Nam diễn biến rất phức tạp.
Trong nội địa, từ năm 2011-2013, lực lượng quản lý thị trường cả nước đã phát hiện, thu giữ, xử lý, tiêu hủy hơn 207.000 băng, đĩa lậu có nội dung không lành mạnh, phản văn hóa và 245.300 đồ chơi nguy hại.
Một bộ phận giới trẻ Việt đã thần tượng hóa một số ngôi sao ca nhạc nước ngoài quá mức. Ảnh: P.V
Một bộ phận giới trẻ Việt đã thần tượng hóa một số ngôi sao ca nhạc nước ngoài quá mức. Ảnh: P.V
Theo ông Phạm Xuân Phúc, Phó chánh Thanh tra Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch, văn hóa phẩm có nội dung độc hại đã gây tò mò, thu hút, lôi cuốn một bộ phận không nhỏ người dân, nhất là giới trẻ. Nhiều người trẻ đã bị tác động xấu vào suy nghĩ, lối sống… mà không hề hay biết.
Góp phần làm vẩn đục thêm môi trường văn hóa, còn có một số cơ quan báo chí đang chạy theo xu hướng “lá cải hóa”. Theo khảo sát của chương trình “Chuyện đương thời” trên VTV gần đây, 40% ý kiến người dân được hỏi cho rằng, khi truyền thông liên tục đăng tải các vụ án nghiêm trọng như Lê Văn Luyện, Nguyễn Đức Nghĩa tức là “đang vô tình hướng dẫn cách giết người tàn bạo, man rợ”. Hậu quả kéo theo là rất nhiều vụ thảm án xảy ra, đối tượng trẻ hóa ngày càng nhiều. Thậm chí trên một số trang mạng xã hội còn xuất hiện “Hội những người phát cuồng vì Lê Văn Luyện”(!).
Theo thống kê của Cục Cảnh sát hình sự (Bộ Công an), trong 15 năm qua (1998-2013), cả nước có hơn 200.000 trẻ em (dưới 18 tuổi) vi phạm pháp luật, bình quân mỗi năm có trên 13.300 trẻ em phạm pháp, nghĩa là trung bình mỗi ngày có 36 trẻ em phạm tội. Sự gia tăng tội phạm trong giới trẻ có nhiều nguyên nhân, nhưng theo các nhà tâm lý học, có một nguyên nhân bắt nguồn từ chính hậu họa của rất nhiều sản phẩm văn hóa độc hại như đồ chơi bạo lực, trò chơi game online chỉ toàn “đánh, đấm”, khiêu dâm và phim ảnh đầy cảnh máu me, đồi trụy…
Du nhập văn hóa thiếu chọn lọc
Thời gian qua, dư luận không khỏi băn khoăn, lo lắng về tình trạng nhiều hoạt động văn hóa, nhiều sân chơi giải trí bị “Tây hóa”, rất xa lạ với truyền thống văn hóa dân tộc. “Đình đám” nhất là cách đây 3 năm, một lễ hội hôn tập thể ở Hải Phòng được quảng cáo rầm rộ và định tổ chức phô trương, nhưng sau khi công luận lên tiếng buộc cơ quan quản lý văn hóa địa phương phải dẹp bỏ vì nó trái với thuần phong mỹ tục của người Việt. Việc cấp phép cho “nở rộ” các vũ trường, tụ điểm karaoke ở khắp các địa phương, dù có thể tạo ra một “luồng gió mới” trong đời sống văn hóa giới trẻ như ai đó từng nói, nhưng đã có rất nhiều vụ “ngáo đá”, “thuốc lắc” sử dụng trong vũ trường, hàng trăm vụ mại dâm trá hình ở các tụ điểm karaoke bị triệt phá, đã nói lên hệ lụy phức tạp của những cơ sở văn hóa nhạy cảm này. Theo thống kê của Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch, đến nay cả nước có 57 vũ trường, gần 14.200 điểm karaoke. Qua kiểm tra, từ năm 2010-2013, thanh tra bộ này đã phát hiện, xử phạt 55 lượt vũ trường và 1.371 điểm karaoke vì đã vi phạm trong hoạt động kinh doanh văn hóa.
Sự du nhập ồ ạt, tràn lan nhiều trò chơi trực tuyến, nhiều bộ phim, nhiều dòng nhạc ngoại vào nước ta là một trong những lý do chủ yếu làm cho một bộ phận người trẻ bị mắc những căn bệnh mà các nhà tâm lý học gọi là “tâm thần mới” như “nghiện game online”, “nghiện phim sex”, “phát cuồng thần tượng”, “nô lệ của thế giới ảo”… Cũng do sùng ngoại một cách thái quá, một số bộ phim mà dư luận gọi là phim “thảm họa” vừa ra đời đã vội “chết yểu” bởi nội dung thiếu lành mạnh, lai căng, dễ làm “vẩn đục” tâm hồn công chúng. Năm 2013, Hội đồng duyệt phim quốc gia đã kiên quyết cấm phổ biến hai phim nhựa “Gái ngoan nổi loạn” và “Bụi đời Chợ Lớn” đã phần nào nói lên điều đó.
Không những vậy, nhiều khung “giờ vàng” trên truyền hình ở nước ta thời gian qua cũng bị lấn át bởi các phim ngoại. Theo Nghị định 54/2010/NĐ-CP của Chính phủ, thời lượng phát sóng phim Việt Nam trên mỗi đài truyền hình phải bảo đảm tối thiểu 30% tổng thời lượng phát sóng. Nhưng thực tế hiện nay, chỉ có 3 cơ quan là Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Truyền hình TP Hồ Chí Minh và Truyền hình Bình Dương bảo đảm định mức này; còn lại 60 đài truyền hình tỉnh, thành phố trong cả nước vẫn để phim ngoại lấn lướt phim nội.
Theo thống kê của Cục Điện ảnh, 4 năm qua (2010-2013), Việt Nam sản xuất được 124 phim truyện nhựa và phim video. Trong khi tổng số phát hành trên thị trường là 847 phim. Như vậy, số phim của Việt Nam chỉ chiếm gần 15% thị phần, còn lại hơn 85% thị phần là chiếu phim nước ngoài.
Không riêng nền công nghiệp điện ảnh non yếu, ngành công nghiệp văn hóa nước ta cũng còn ở giai đoạn sơ khai, sản phẩm xuất khẩu nghèo nàn. Số liệu sau đây khiến chúng ta không thể không suy nghĩ một cách nghiêm túc. Trong 4 năm (2010-2013), nước ta mới xuất khẩu được 362.000 đơn vị văn hóa phẩm, nhưng đã phải nhập khẩu 3.640.000 đơn vị văn hóa phẩm (gấp hơn 10 lần số lượng xuất khẩu). Đây là một tỷ lệ rất chênh lệch, thể hiện nền công nghiệp văn hóa của nước ta bị lép vế, yếu thế trong thế giới hội nhập hiện nay.
PGS.TS Lương Hồng Quang, Phó viện trưởng Viện nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam (Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch) cho rằng: Một nền văn hóa mà “nhập siêu” quá lớn thì nguy cơ văn hóa ngoại lai “lên ngôi” cũng không có gì khó hiểu. Đây là vấn đề rất hệ trọng, liên quan đến vị thế văn hóa, diện mạo quốc gia của nước ta trên trường quốc tế. Nếu không sớm có chính sách xây dựng nền công nghiệp văn hóa đủ mạnh để cân bằng cán cân xuất – nhập khẩu văn hóa phẩm, thì nguy cơ các “làn sóng văn hóa” ngoại quốc tiếp tục xâm lấn ngày càng sâu vào nước ta sẽ có thể dẫn tới những hệ lụy khôn lường. 
THIỆN VĂN

Bài 1: Nhận diện “cuộc chiến mềm”

QĐND - Văn hóa là gốc rễ, là cội nguồn bồi đắp, làm nên sức mạnh nội sinh của dân tộc. Để làm mọt ruỗng, suy yếu sức mạnh nội sinh, các thế lực thù địch vừa âm thầm, vừa ráo riết thực hiện nhiều hoạt động “xâm lăng văn hóa” với những thủ đoạn xâm nhập, chuyển hóa vô cùng tinh vi, nham hiểm.
 “Đế quốc thông tin” trong thế giới phẳng
Thực hiện phương châm “Đầu tư 1 USD cho mặt trận tư tưởng - văn hóa hiệu quả hơn đầu tư 10 USD cho mặt trận quân sự”, những năm qua, các cơ quan truyền thông phương Tây đã tiêu tốn hàng triệu USD vào việc xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật và đào tạo nhân lực để hình thành “đế quốc thông tin” chĩa thẳng vào Việt Nam hòng làm chuyển biến hệ tư tưởng, thay đổi hệ giá trị văn hóa, đảo lộn những chuẩn mực đạo đức xã hội ở nước ta, trong đó họ lấy thế hệ trẻ làm “trọng tâm”, coi trí thức và văn nghệ sĩ (nhất là những người có quan điểm phức tạp, cực đoan) làm “trọng điểm”, xác định một số cán bộ (cả hưu trí và đương chức) có quan điểm đa chiều làm “mũi nhọn”.
Nhiều thanh, thiếu niên ngày càng bị lôi cuốn vào các trò chơi bạo lực và những sản phẩm văn hóa độc hại từ internet. Ảnh: P.V
Theo cơ quan chức năng, đến nay đã có 62 đài phát thanh của nước ngoài có chương trình tiếng Việt, 390 báo, tạp chí, 88 nhà xuất bản và 397 website, trang mạng xã hội có máy chủ ở nước ngoài thường xuyên cung cấp, đăng tải thông tin chống phá Việt Nam. Riêng năm 2013 đã có 475 trang mạng đăng tải hàng nghìn bài viết có nội dung xuyên tạc, nói xấu chế độ, bôi đen hình ảnh đất nước; 250 website, blog, diễn đàn đăng tải các bài viết chống phá quyết liệt việc sửa đổi Hiến pháp 1992; 245 trang web, blog có nội dung phản động. Đấy là chưa kể gần 58.000 tài liệu thuộc diện “chiến tranh tâm lý” mà các lực lượng an ninh của ta đã phát hiện, thu thập được trong năm 2013 (tăng hơn 5.200 tài liệu so với năm 2012), trong đó có hơn 7.100 tài liệu phản động.
Đại diện Phòng An ninh thông tin (Cục A87, Bộ Công an) cho biết: Một trong những thủ đoạn tinh vi, thâm độc mà các thế lực thù địch tiến hành thời gian gần đây là triệt để lợi dụng internet, thư điện tử, tin nhắn SMS… để chuyển tải thông tin trái chiều vào một số cán bộ cao cấp nhằm gây nhiễu thông tin, gây mất đoàn kết nội bộ, nhất là vào những thời điểm nhạy cảm như lựa chọn, bầu cử nhân sự. Đáng nói hơn, đến nay đã phát hiện được gần 400 website, blog mạo danh các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy, Tỉnh ủy và cán bộ cao cấp của các ban, bộ, ngành, cơ quan, đoàn thể Trung ương. Trong số đó, đã phát hiện được hơn 130 bài viết, clip, video có nội dung xấu. Những hình ảnh, bài viết này nếu không được ngăn chặn, xử lý kịp thời, triệt để sẽ bị phát tán cực nhanh, gây ra mối hoài nghi lớn trong nhân dân, làm xã hội phân tâm tư tưởng, ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.
“Internet hóa” hoạt động xuất bản
Có nhiều cách truyền bá thông tin độc hại, trong đó việc tổ chức xuất bản, phát tán các cuốn sách, tài liệu, tác phẩm văn học nghệ thuật có nội dung xấu trên mạng internet. Các thế lực thù địch coi là một cách thâm nhập “chi phí thấp” mà vẫn có thể đạt được “hiệu quả tối đa”.
Mấy năm gần đây, xu hướng “internet hóa” hoạt động xuất bản ngày càng gia tăng với quy mô không ngừng mở rộng. Theo ông Chu Văn Hòa, Cục trưởng Cục Xuất bản, In và Phát hành (Bộ Thông tin và Truyền thông), nếu như trước đây, các thế lực bên ngoài xuất bản những ấn phẩm có nội dung phản động, đồi trụy, độc hại rồi thông qua con đường nhập lậu (đường biên, cửa khẩu, hải cảng, hàng không) để tuồn vào nước ta, thì gần đây, phương thức truyền thống này có chiều hướng giảm. Thay vào đó là phương thức “internet hóa” hoạt động xuất bản với tính chất tinh vi hơn, tác hại cũng ghê gớm hơn.
Hiện tại, trên mạng internet đã xuất hiện một số “nhà xuất bản ảo” chuyên đăng tải những ẩn phẩm có nội dung phức tạp, nhạy cảm, thực hư lẫn lộn nhằm “tung hỏa mù”, gây nhiễu thông tin dư luận. Chỉ cần thông qua những cái tên của các nhà xuất bản ảo như “Tùy tiện”, “Vỉa hè”, “Giấy vụn”, “Gió”, “Cửa”, “Phía chúng ta”… cũng thấy phần nào ý đồ của họ. Trước đây, nếu một cuốn sách xuất bản bằng giấy thì “tốc độ” đến tay người đọc chậm hơn. Nhưng hiện nay, nếu sách được tung lên mạng thì chỉ cần một “cú nhấp chuột”, có thể có sách trong tay. Nội dung sách càng nhạy cảm, phức tạp, càng gây tò mò cho độc giả, nhất là giới trẻ. Những ai không có bản lĩnh, nhận thức chính trị non kém, không đủ trình độ phân biệt đúng - sai, tốt - xấu, thật - giả, phải - trái… sẽ dễ bị “nhiễm độc” tư tưởng, trái tim. Sự nguy hại của thủ đoạn tăng tốc “internet hóa” hoạt động xuất bản chính là ở chỗ này.
Không dừng lại ở đó, các thế lực bên ngoài còn lợi dụng con đường hợp tác xuất bản như thông qua học tập, hội thảo, đầu tư, liên kết để móc nối, lôi kéo, mua chuộc, chuyển hóa một bộ phận cán bộ, biên tập viên (nhất là số người có tư tưởng cơ hội, thực dụng) nhằm “phi chính trị hóa” hoạt động xuất bản. Năm 2013, cơ quan an ninh của ta đã phát hiện một tổ chức hải ngoại tài trợ 12.000USD cho một biên tập viên dưới “danh nghĩa cộng tác viên” của một nhà xuất bản lớn ở nước ta nhằm mục đích viết bài, xuất bản ấn phẩm với dụng ý xấu. Ngoài ra, một số cơ quan báo chí của người Việt lưu vong ở hải ngoại còn hỗ trợ kinh phí cho những kẻ cơ hội, bất mãn xuất bản những cuốn sách phản động. Ở trong nước, một số trí thức, văn nghệ sĩ có quan điểm phức tạp, cực đoan đã tập hợp tài liệu hoặc tự sáng tác, truyền bá những tác phẩm thiếu lành mạnh, thậm chí cấu kết với các đối tượng phản động bên ngoài để liên kết xuất bản những tác phẩm độc hại rồi phát tán trên mạng internet, trên blog, trang web cá nhân.
Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và dịch vụ internet, cuộc “xâm lăng văn hóa” diễn ra vô cùng khốc liệt trên “thế giới phẳng”. Thông tin xấu độc trên mạng đang làm ô nhiễm môi trường văn hóa và xâm hại nghiêm trọng an ninh tư tưởng - văn hóa quốc gia.
THIỆN VĂN
Bài 2: "Gió lành" chưa thổi bạt "gió độc"

Lại trò “lập lờ đánh lận con đen” của FIDH

QĐND - Mới đây trên VOA tiếng Việt và một vài trang mạng ở nước ngoài đã phát đi thông tin: Theo thống kê của Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền (FIDH), Việt Nam là nhà tù lớn nhất tại khu vực Đông Nam Á giam giữ tù nhân chính trị... Những người được tổ chức này gọi là tù nhân chính trị ở Việt Nam bao gồm “nhà bất đồng chính kiến” phạm tội “tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo Điều 79; tội “phá hoại chính sách đoàn kết" theo Điều 87; tội “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Điều 88 Bộ luật Hình sự… Cụ thể hơn đó những cá nhân đã hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam như: Nguyễn Văn Lý, Cù Huy Hà Vũ, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức, Trần Anh Kim, Đinh Nhật Uy, Bùi Thị Minh Hằng v.v..
Nhà nước Việt Nam đã nhiều lần khẳng định ở Việt Nam không có tù chính trị, mà chỉ có những cá nhân vi phạm luật hình sự và bị cơ quan tiến hành tố tụng Việt Nam bắt giữ, điều tra, xét xử và tuyên án theo đúng quy định của luật pháp. Thực chất của cái gọi là “tù nhân chính trị”, “tù nhân lương tâm” ở Việt Nam mà Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền đưa ra không có gì khác đó là chiêu thức, thủ đoạn hoạt động nhằm bênh vực, cổ súy cho những hành vi chống phá Nhà nước và nhân dân Việt Nam của các thế lực thù địch. Đây rõ ràng là một sự xuyên tạc sự thật, “lập lờ đánh lận con đen” nhằm đánh lừa dư luận, xuất phát từ một sự định kiến và thái độ thiếu thiện chí của cái gọi là Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền đối với Việt Nam.
Hành vi đó quả là không thể chấp nhận được, bởi nó hoàn toàn mang tính áp đặt chủ quan, phiến diện, định kiến và xuyên tạc sự thật. Vậy nhưng thật tiếc nó lại được một tổ chức được lập ra với mục đích hoạt động thúc đẩy nhân quyền trên thế giới như Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền tiến hành.
AN QUỐC