Thứ Tư, 26 tháng 12, 2018

Sự thật về lời viện dẫn của Trúc Giang


                                      
Tôi cũng như các bạn, cứ nghe thấy ai nói tục tĩu là đã rất bức xúc rồi, chẳng ai thích nghe những lời mà người khác miệt thị mình hoặc thậm chí chửi lại mình đâu, huống hồ lại miệt dân mình, quê hương mình, đất nước mình. Vậy mà không phải ít đâu, mà nhiều người có cái kiểu đó, cứ hay đem chuyện nhà mình, dân mình đi bêu cho thiên hạ cười vào mũi. Các cụ có câu rằng: “Tốt phô ra, xấu xa đậy lại”, thế mà đã chẳng đậy mà còn khoe ra, tô vẽ thêm vào, rồi cho thêm “gia vị” vào để gây sự tò mò, lôi kéo nhiều người tham gia bình luận, bêu xấu nhau. Có những việc không đáng để nói ra, chỉ là việc cỏn con, sự vụ, do một nhóm người gây nên mà không ảnh hưởng đến xã hội, nhưng cũng được đưa lên tô vẽ rồi nâng quan điểm, đưa thêm những thứ thô thiển mà người cũng chẳng ưa chút nào.
Mới đây thôi tác giả Trúc Giang viết trên trang Việt Báo viện dẫn cho rằng
“Một chế độ dối trá chỉ “sản xuất” ra những con người dối trá. Hậu quả gian trá thể hiện rõ nét ở Việt Nam. Đó là trong 3 tuần qua, dư luận xôn xao và “bức xúc” trước vụ gian lận thi cử ở Hà Giang. Gian lận thi cử không chỉ xảy ra ở Hà Giang, mà còn ở nhiều tỉnh khác như: Phú Thọ, Lai Châu, Hòa Bình, Kontum, Điện Biên, Sơn La, Lâm Đồng, Bạc Liêu…Sở Giáo dục mà hành động vô giáo dục như thế đã tạo ra “một cơn lũ cuốn trôi đi niềm tin của người dân”. Ngoài việc giáo dục ra, còn có văn hóa đe éo, bún chửi, phở chửi, cháo mắng ở Hà Nội…”
Rõ ràng thông tin mà tác giả vừa nêu không đúng thực tế mà cần phải xem xét lại. Đúng là có gian lận thi cử ở Hà Giang và Sơn La, Hòa Bình trong kỳ thi vừa rồi, nhưng suy cho cùng việc gian lận thi cử kỳ nào và nước nào mà chẳng có. Với lại sau khi điều tra, Bộ Giáo dục đã chỉ đạo rà soát thẩm tra tất cả các hội đồng chấm của 63 tỉnh, thành trong cả nước, không phát hiện thêm điểm vi phạm nào nữa, vậy mà tác giả còn nói là có cả ở nhiều tỉnh khác như Phú Thọ, Lai Châu, Hòa Bình, Kontum, Điện Biên, Sơn La, Lâm Đồng, Bạc Liêu, điều này không đúng. Một vấn đề nữa là quá trình tổ chức thi có sự tham gia của rất nhiều người, cả sở giáo dục và trường đại học; việc chấm thi cũng phải thực hiện các quy trình nghiêm ngặt, có điều là nhiều khâu do con người thực hiện, tuy nhiên dễ xảy ra vi phạm, song không hề có sự chỉ đạo theo kiểu tập thể như tác giả nêu ở trên, mà sai phạm vừa rồi chỉ do một nhóm người cố tình thực hiện hành vi gian lận, số người này đã bị phát hiện và bị xử lý theo quy định của pháp luật. Và cũng chỉ có ở ba điểm thi chứ đâu phải ở nhiều nơi mà tác giả lại đơm đặt như thế. Tất nhiên ai cũng rất bức xúc khi cố ý làm để xảy ra sai phạm, song chúng ta cũng cần phải khách quan trong việc đánh giá, nhận định về kết quả thực hiện giải pháp đổi mới trong lộ trình thi cử, kiểm tra, với mục tiêu đảm bảo sự công bằng, công khai, minh bạch, vì một nền giáo dục hiện đại đáp ừng giai đoạn công nghiệp 4.0, không thể tránh được những hạn chế, bất cập, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, chẳng có giải pháp nào mà gọi là hoàn hảo đến độ lý tưởng cả. Cũng không vì thế mà tác giả nói rằng “một cơn lũ cuốn trôi đi niềm tin của người dân” được, bởi vì số học sinh bị nâng điểm chỉ là một số rất ít, cũng đã được chấm lại và trả lại đúng điểm số xứng đáng rồi. Còn ai sai và sai đến đâu cũng đã được xử lý đúng pháp luật, nhằm đảm bảo cho kỳ thi sau tránh được những hiện tượng tiêu cực như vừa xảy ra. Và tôi tin rằng đại đa số nhân dân vẫn tin tưởng ở các cơ quan chuyên môn trong chỉ đạo thi của Bộ Giáo dục.
Vấn đề nữa, có thể tác giả đã chứng kiến một số người ứng xử với nhau hoặc sử dụng câu từ chưa đúng chuẩn ngôn ngữ, hoặc như ta nói là tục tĩu thô thiển, thì chỉ xảy ra ở một vài cá nhân thôi, “con sâu bỏ dầu nồi canh” chứ không phải là đại diện cho cả một xã hội được. Đã vậy tác giả lại còn viện dẫn thêm câu chuyện cá biệt về quán “bún chửi, phở chửi, cháo mắng”, để rồi nâng lên quan điểm và kết luận đó là Sản phẩm” của chế độ Cộng Sản ở Việt Nam”. Qua đây chúng ta cũng nhận thấy rằng, việc đưa tin của tác giả hoàn toàn không đơn giản, mà có ngụ ý rất rõ ràng, thâm thúy, lấy một sự việc trong xã hội chỉ là đơn lẻ, thiểu số, để quy nạp thành vấn đề lớn, trong khi bản chất sự việc vốn không phải như vậy.
Tôi được biết về câu chuyện video quán “bún chửi” của bà Thảo ở phố Ngô Sĩ Liên - Hà Nội được phát sóng trên kênh truyền hình Mỹ CNN đã gây tranh cãi trong cộng đồng. Sau khi xuất hiện video, chủ quán “bún chửi” thừa nhận mình có thái độ chưa tốt, và khiếm nhã, gây phản cảm và ảnh hưởng đến hình ảnh của Việt Nam; cũng không tránh khỏi vẫn có một số người cổ súy cho hành động đó. Về nguyên nhân dẫn đến những tình trạng bún mắng, cháo chửi, đánh chửi nhau với khách hàng ở một số địa chỉ nhà hàng ở Hà Nội. Gần đây, TP. Hà Nội đã có nhiều biện pháp chấn chỉnh, ngăn chặn tình trạng ứng xử thiếu văn hóa trong hoạt động kinh doanh dịch vụ ăn uống; ban hành “Quy chế tổ chức kinh doanh dịch vụ ăn uống đường phố theo hướng văn minh, hiện đại”; xác định rõ trách nhiệm của chủ cửa hàng. Nếu để xảy ra tình trạng trên thì ngoài bị xử lý vi phạm hành chính còn bị công khai trước dư luận.  
Rõ ràng rằng, những hành vi phản cảm, thiếu văn hóa khi xảy ra đều có sự phản ứng của dư luận, thái độ của người dân và sự vào cuộc của các cơ quan chức năng, cũng thể hiện rõ quan điểm chỉ đạo của chính quyền để xây dựng một xã hội thực sự có văn hóa, mang bản sắc dân tộc, bồi dưỡng tri thức, nâng cao trí lực và kỹ năng sống, lối sống cao đẹp: “Mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”, lối sống có ý thức tự tôn, tự trọng, tự chủ; sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật; ý thức bảo vệ môi trường, biết khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái thiện, cái đẹp, cái cao thượng và nhân rộng các giá trị nhân văn cao đẹp,… Điều đó đã minh chứng rõ hơn về “sản phẩm của chế độ Cộng sản Việt Nam”.

Cùng với việc viện dẫn nêu trên, tác giả còn dẫn thêm một số câu chuyện rất phản cảm, tục tĩu, hòng gây sự chú ý của người đọc. Càng đọc tôi càng thấy bức xúc vì tác giả đã quá thô thiển, lợi dụng cộng đồng mạng để đưa ra những câu chuyện không đâu vào đâu, rồi tranh thủ nói xấu chế độ, bêu xấu dân mình. Tác giả cố tình che lấp đi thông tin mà cả thế giới đều thừa nhận về Việt Nam và thủ đô Hà Nội, về con người Việt Nam chúng ta. Tôi biết rằng, 6 tháng đầu năm Hà Nội đón hơn 13 triệu lượt du khách quốc tế; năm 2017, Hà Nội đã đón 23,83 triệu lượt khách; Hình ảnh du khách nước ngoài ngồi vỉa hè thưởng thức các món ăn ở Việt Nam cũng không còn xa lạ nữa mà rất phổ biến; mọi rào cản ngôn ngữ hay sự bất đồng văn hóa không còn là vấn đề nữa khi tất cả đều đang ở “thiên đường ẩm thực” với những món ăn tươi ngon và sáng tạo. Trang CNNgo nhấn mạnh rằng người Mỹ cũng có những cửa hàng ăn di động, nhưng Việt Nam mới thực sự là “thiên đường ẩm thực”. Chẳng có nơi nào lại sở hữu một nền ẩm thực đa dạng như ở Việt Nam.

Qua đây, ta thấy rõ rằng, thông tin mà tác giả nêu ra hoàn toàn không đúng, tôi cho rằng chúng ta nên xem xét kỹ những thông tin ấy, để tỉnh táo phân biệt đúng - sai, giọng điệu lừa bịp, bẻ cong sự thật của một số phần tử bất mãn, lợi dụng lòng tin của mọi người để gây nhiễu thông tin, bêu xấu truyền thống văn hóa của dân tộc, đi ngượi lại những thành quả đổi mới của đất nước, nói xấu chế độ, ảnh hưởng đến hình ảnh của con người Việt Nam trong mắt của bạn bè quốc tế.

Hoàng Thanh Long

Nên khuyến khích Hà Nội bảo đảm quyền con người thay vì phủ nhận nỗ lực của họ.


Thanh Phạm

Ngày 4/9/2018, Hà Nội đã cho lưu hành dự thảo “Báo cáo Quốc gia kiểm điểm định kỳ việc thực hiện quyền con người ở Việt Nam” theo Nghị quyết số 5/1 ngày 18/06/2007 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. Đây là lần thứ 3 Hà Nội báo cáo theo cơ chế này.
Thế nhưng trên internet, mạng xã hội trong và ngoài nước đã có những chỉ trích đáng chú ý. “Liên đoàn Nhân quyền Quốc tế (FIDH)” viết: “Chính phủ Việt Nam không đạt được một tiến bộ nào trong việc thay đổi những luật lệ hà khắc theo các tiêu chuẩn quốc tế và họ cũng không cải tổ về luật pháp theo các nguyên tắc dân chủ…”. Đài tiếng nói Hoa Kỳ (VOA), ngày 6/9/2018) thì nói: “Việt Nam che giấu vi phạm nhân quyền trong báo cáo định kỳ phổ quát”...  
Trên thế giớ ảo (internet, mạng xã hội), có ý kiến cho rằng muốn Hà Nội bảo đảm QCN ngày càng tốt hơn thì nên khuyến khích những gì họ đã làm chứ không nên phủ nhận sạch trơn, điều này sẽ chỉ khuyến khích Hà Nội gia tăng đàn áp nhân quyền mà thôi.
Thiết nghĩ những người có thiện chí thật sự cần thừa nhận những nỗ lực của Hà Nội trên lĩnh vực QCN. Năm 1982, Hà Nội đã gia nhập 2 Công ước quốc tế cơ bản, đó là Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, và công ước về các quyền kinh tế xã hội và văn hóa,1966.  Năm 2013, Hà Nội đã ký kết “Công ước của Liên hợp quốc về chống tra tấn và trừng phạt hoặc đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo hoặc làm mất phẩm giá khác” (CAT). Đây là một cam kết mạnh mẽ của Hà Nội, khi mà có người gọi Hà Nội là chế độ “ công an trị”. Bởi ký CAT có nghĩa  Hà Nội cam kết ngăn chặn mọi hành vi tra tấn, đối xử vô nhân đạo hoặc xúc phạm nhân phẩm bởi bất cứ cá nhân, tổ chức nào, kể cả công an.
Các chiến sỹ dân chủ, nhân quyền cũng cần ghi nhận sự kiện đại diện của Hà Nội được bầu vào Hội đồng nhân quyền nhiệm kỳ 2014-2016. Điều này nói lên rằng chuyên nhân quyền có rất nhiều cách nhìn nhận đánh giá, chứ không chỉ có các chiến sỹ dân chủ, nhân quyền mạng “chém gió”.
Có người nói- “Không có luật thì chẳng có quyền”, thời gia qua Hà Nội đã có những bước tiến trên lĩnh vực thể chế, pháp luật. Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam 2013 là một bước tiến về thể chế Quốc gia và QCN. Chương I quy định: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người…” ( Điều 3). Như vậy QCN không chỉ được công nhận mà còn được tôn trọng trong chế độ Hà Nội.
Về vai trò độc quyền của Đảng cộng sản Việt Nam lâu nay, Hiến pháp 2013 đã quy định hạn chế quyền của Đảng này. Điều 4 quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam … chịu sự giám sát của Nhân dân, …; Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.
Về QCN, Hiến pháp 2014 đã giành Chương II quy định về “QCN, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”. Trong Chương II, tất cả các QCN về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa đã được quy định đầy đủ, đồng thời cũng tương thích với các cộng ước quốc tế về QCN của Liên hợp quốc. Ba nguyên tắc về QCN: QCN là quyền của tất cả mọi người; QCN chỉ bị hạn chế bởi luật định và nguyên tắc suy luận vô “ Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật…” (Điều 31).
Những quyền về chính trị nhậy cảm cũng được quy định trong Hiến pháp. Chẳng hạn: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” (Điều 25). Thể chế hóa Hiến pháp 2013, Hà Nội đã ban hành  Luật Báo chí, 2016, quy định mọi người có quyền “Sáng tạo tác phẩm báo chí; Cung cấp thông tin cho báo chí...”. Trước đó, Hà Nội ra Nghị định Nghị định về “ Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng”, nhằm “Thúc đẩy việc sử dụng Internet trong mọi hoạt động kinh tế, xã hội …”
Thực tế cho thất bầu không khí chính trị, xã hội, diện mạo kinh tế, quan hệ đối ngoại của Việt Nam đã khác trước. Cuộc bầu cử Quốc hội khóa IV năm 2016, cả nước có tới 67.485.482 cử tri đi bầu, đạt tỷ lệ 99,35%[1]. Quyền tự do ngôn luận báo chí ngày càng rộng rãi hơn. Cho đến năm 2017 Việt Nam có tới 982 cơ quan báo, tạp chí được cấp phép hoạt động, phân bổ như sau-số lượng báo in là 193 (Trung ương: 86, địa phương: 107); 639 tạp chí (Trung ương: 525, địa phương: 114); báo điện tử là 150. Trong  thời gian qua, báo chí đã thông tin kịp thời, phản ánh hơi thở đời sống xã hội, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống người dân.
Trên lĩnh vực internet, mạng xã hội, Việt Nam hòa mạng internet toàn cầu khá sớm- từ ngày 1-12-1997. Về quyền tham gia mạng xã hội, theo tổ chức nghiên cứu về MXH quốc tế-“Next Web”, hiện nay Việt Nam nằm trong “Top 10” quốc gia có nhiều người dùng Facebook nhất thế giới, với 64 triệu người, chiếm 3% tổng số tài khoản Facebook toàn cầu.
Ngoài các đài phát thanh, truyền hình quốc gia và các tỉnh, thành phố, hiện nay Việt Nam có tới 336 mạng xã hội, 1.174 trang thông tin điện tử được cấp phép hoạt động. Giá dịch vụ internet ở Việt Nam vào loại rẻ nhất khu vực. Người nước ngoài và người dân Việt Nam có thể tiếp cận tin tức của các cơ quan thông tấn, báo chí trên thế giới, như: AFP, AP, BBC,VOA, Reuters, Kyodo, Economist, Financial Times… mà không có bất kỳ hạn chế nào.
Công bằng mà nói hiếm có một quốc gia nào lại có nhiều chính sách hướng đến nhóm xã hội nghèo khó, đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc như Hà Nội. “ Ngân hàng Chính sách xã hội” có thể vay trực tiếp hoặc vay ủy thác qua các tổ chức đoàn thể chính trị- xã hội của mình như Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Hội phụ nữ… Nhà nước còn giành một nguồn ngân sách lớn cho chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi, gọi tắt là Chương trình 135. Chương trình này, nhằm Phát triển sản xuất, nâng cao mức sống cho các hộ dân tộc thiểu số, hướng vào các nhiệm vụ sau: Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật; Phát triển các dịch vụ công cộng địa phương thiết yếu như điện, trường học, trạm y tế, nước sạch; ... Chỉ tính riêng hai năm - 2014, 2015, Chương trình 135 đã giành số vốn từ ngân sách nhà nước lên đến  7.790 tỷ đồng[2].
Hiếm có một quốc gia nào trong điều kiện một nước vừa thoat ra khỏi cuộc chiến tranh kéo dài trên 30 năm mà đã xây dựng được một hệ thống y tế, trường học ( cấp 1,2 ) đến tất cả các xã ở cả vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào Dân tộc ít người như Việt Nam.
Trên lĩnh vực quan hệ quốc tế, đến nay Hà Nội đã có quan hệ ngoại giao với 185 nước trên thế giới, 13 đối tác chiến lược.Trong số các quốc gia đối tác chiến lược có nhiều nước lớn, như Liên bang Nga, Trung Quốc, Ấn Độ. Cựu thù-Hoa Kỳ trở thành đối tác toàn diện của Việt Nam.
Không phủ nhận rằng, Hà Nội vẫn đang còn những vấn bất cập về nhân quyền. Chẳng hạn sự hình thành “ nhóm lợi ích”. Nhưng Hà Nội đã không “ che dấu” điều này. Hội nghị TW 4 ( Đại hội XII) đã chỉ ra 27 biểu hiện của tình trạng trên. Cuộc đấu tranh chống tham nhũng, được chính Tổng Trọng ra tay chỉ đạo, ông nói đây là cuộc chiến “ không có vùng cấm” “ không loại trừ bất cứ ai”…Thực tế cho thấy đã có ủy viên Bộ chính trị- ông Đinh La Thăng bị cầm tù.
 Có thể hiện nay ông Trọng còn đang cân nhắc sẽ “trảm” đến đâu để giữ ổn định xã hội và cho cả vị trí của ông khi thời gian cho nhiệm kỳ này không còn nhiều…Hơn nữa vì lực lượng chống ông cũng không nhỏ.


[1] -Báo Chính phủ. Vn/19/7/2016.

[2] -“Gần 2.300 xã được đầu tư theo Chương trình 135 giai đoạn 2016 – 2020”Web-Báo Đầu tư, 13-9-2018

Thứ Ba, 25 tháng 12, 2018

CHUYỆN KHÔNG THỂ KHÔNG NÓI





1. Trên các trang mạng gần đây, ông N.K.M có bài viết: “Đảng Cộng sản Việt Nam đã đái vào chủ nghĩa Mác”. Ông dùng từ hết sức thô lỗ, “đái” để “câu khách” và muốn làm chuyện giật gân với thiên hạ. Ông lấy cái cớ tự do báo chí để phản đối Luật An ninh mạng vừa được Quốc hội Việt Nam thông qua. Ông viết: “Thông qua Luật An ninh mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đái vào chủ nghĩa Mác, bởi tự do báo chí là một nội dung quan trọng trong tư tưởng của C.Mác”. Ông coi Luật An ninh mạng như một thứ luật kiểm duyệt, không thể chấp nhận được. Rồi ông trích dẫn một loạt câu của C.Mác để minh chứng cho vấn đề này, như câu: “Tệ lớn nhất, tệ giả dối gắn liền với báo chí bị kiểm duyệt… Điều đó dẫn đến cái gì? Chính phủ (đảng – N.K.M thêm) chỉ nghe thấy tiếng nói của chính mình, duy trì sự lừa dối và cũng đòi nhân dân phải ủng hộ sự lừa dối đó. Chế độ kiểm duyệt bóp chết tinh thần quốc gia như thế đó” (Câu này, ông trích trong C. Mác -  Ph. Ăngghen: Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 102). Tôi (Đ.Đ.V) chưa có thời gian để xem lại các câu ông trích từ sách của C.Mác có đúng không, nhưng ông có một lầm lẫn rất đáng tiếc, chứng tỏ ông chẳng hiểu gì về chủ nghĩa Mác. Những câu ông trích từ sách của C.Mác nếu có thật đi chăng nữa, thì C.Mác nói về tình cảnh báo chí dưới chủ nghĩa tư bản, chứ không phải chỉ vào báo chí dưới chủ nghĩa xã hội. Thời C.Mác sống, chưa có đảng cộng sản, chưa có nhà nước xã hội chủ nghĩa trên thực tế, mới chỉ có Liên đoàn những người cộng sản, cho nên vấn đề mà C. Mác viết, nói là ám chỉ báo chí dưới chủ nghĩa tư bản, chứ không phải ám chỉ báo chí dưới chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mà ông N.K.M đã lầm lẫn.
      Thời C.Mác sống, báo chí bị nhà cầm quyền tư sản kiểm duyệt cực kỳ gắt gao, mất hẳn tự do dân chủ với đúng nghĩa của nó. Đã có nhiều bài báo do C.Mác viết đều không được đăng. Nhiều bài báo của C.Mác thể hiện tư tưởng tiến bộ rõ rệt, gửi đăng tại tờ báo tư sản “Presse”, nhưng đều bị kiểm duyệt gắt gao và bị từ chối thẳng thừng mà không cần cho biết lý do. Cuối năm 1861, C.Mác nhận ra rằng, một loạt bài báo do ông gửi đi đã không được đăng. Trong thư gửi cho Ph.Ăngghen, ngày 27-12-1861, C.Mác phàn nàn: “Tờ Presse ghẻ lở không đăng đến một nửa tổng số những bài báo của tôi”. Đặc biệt, tờ Presse đã không đăng một số bài của C.Mác viết về cuộc chính phục Mêhicô của các nước Pháp, Anh và Tây Ban Nha, công phẫn lên án chính sách thực dân ăn cướp của các cường quốc châu Âu. Năm 1862, Ban Biên tập tờ  Presse chỉ đăng “nhỏ giọt” những bài báo của C.Mác. Nhiều bài bị cắt xén đến thảm hại. Họ dùng kính núp để soi từng bài viết của C.Mác. Trước ngày khai mạc cuộc triển lãm công nghiệp toàn thế giới lần thứ nhất ở Luân Đôn, Vương quốc Anh trong năm 1862, Frítlenđơ, người phụ trách báo chí của cuộc triển lãm đã cố giới hạn đề tài của C.Mác, chỉ cho C.Mác viết những vấn đề liên quan tới cuộc triển lãm thôi, mà không được phép sa vào chính trị. Về những vấn đề khác, người ta đề nghị C.Mác mỗi tuần gửi nhiều nhất là một bài. Ý đồ đó của Ban Biên tập đã dẫn tới chỗ từ tháng 12-1862, C.Mác thôi không thể viết và cộng tác với tờ Presse nữa.
      Từ mùa xuân năm 1861, xảy ra cuộc nội chiến ở nước Mỹ đã thu hút sự chú ý của C.Mác và Ph.Ăngghen. Trước đó, vào năm 1860, Abram Lincôn, ứng cử viên của Đảng Cộng hòa, được bầu làm Tổng thống. Ông là người chống lại chế độ nô lệ của người da đen ở Mỹ, cho rằng, cần giới hạn địa hạt áp dụng chế độ đó. Sự kiện này đã thúc đẩy bọn chủ nô, chủ đồn điền ở miền Nam nước Mỹ bước lên con đường công khai nổi loạn. Các bang ở miền Nam nước Mỹ lần lượt tuyên bố tách ra khỏi Hợp chủng quốc Hoa Kỳ - tức ly khai, khỏi Liên bang Mỹ. Ngày 4-2-1861, những đại biểu của các bang ly khai thành lập một Liên minh miền Nam riêng rẽ. Ngày 12-4-1861, quân phiến loạn mở đầu chiến sự chống lại các lực lượng vũ trang của Liên bang. Cuộc nội chiến ở Mỹ bắt đầu với một quy mô chưa từng thấy, kéo dài đến tháng 4-1865. C.Mác coi cuộc nội chiến ở Mỹ là một sự kiện có ý nghĩa toàn thế giới. Ông đã viết nhiều bài về sự kiện này, nhưng đều bị nhà cầm quyền kiểm duyệt rất gắt gao khi ông gửi bài xin đăng trên tờ New York Daily Tribune, một tờ báo mà ông cộng tác đã nhiều năm. Cuối cùng, ông cũng phải chấm dứt cộng tác với tờ New York Daily Tribune, khi Ban Biên tập của tờ báo này đề nghị ông tạm ngừng công tác cộng tác viên. Đến tháng 3-1862, C.Mác đã phải chấm dứt hẳn quan hệ với tờ New York Daily Tribune. Việc đình chỉ công tác cộng tác viên cho tờ New York Daily Tribune cũng như với tờ Presse, lại đặt C.Mác vào tình trạng hết sức nguy kịch về tài chính. Ông phải tất tả chạy ngược chạy xuôi, lần hồi kiểm miếng cơm manh áo.
      Còn rất nhiều sự kiện khác nói về tình cảnh báo chí dưới chế độ tư bản mà C.Mác đã phải trải qua, và có lúc phải kêu trời về sự kiểm duyệt cực kỳ khắt khe của nhà chức trách. C.Mác đã phê phán gay gắt chế độ báo chí dưới chủ nghĩa tư bản, họ đã tước hết quyền tự do báo chí và luôn luôn đặt “cây thòng lọng” vào cổ các nhà báo. Ông N.K.M đã không thấu hiểu điều này, cho nên từ chỗ C.Mác chĩa vào chủ nghĩa tư bản mà phê phán, ông lại quay sang đánh tráo chĩa vào báo chí dưới chủ nghĩa xã hội.
      2. Vấn đề kiểm duyệt báo chí gay gắt dưới chế độ thực dân và đế quóc còn được thể hiện trong nhiều bài viết của Nguyễn Ái Quốc, trong đó có tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”, xuất bản đầu tiên tại Paris năm 1925.  Trong tác phẩm này, Người đã dành hẳn một chương (Chương IX) phân tích về chính sách ngu dân của chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Người viết:
      “Để có thể đánh lừa dư luận bên Pháp và bóc lọt dân bản xứ một cách êm thấm, bọn cá mập của nền văn minh không những đầu độc nhân dân An Nam bằng rượu và thuốc phiện, mà còn thi hành một chính sách ngu dân triệt để.
      Cho nên, theo Sắc lệnh năm 1898, báo chí bản xứ phải chịu kiểm duyệt trước khi in.
      Sắc lệnh đó viết: Việc lưu hành báo chí bất cứ bằng thứ tiếng gì, đều có thể bị cấm do nghị định của quan toàn quyền. Báo tiếng Việt không được xuất bản nếu không được phép của quan toàn quyền. Giấy phép chỉ cấp với điều kiện là các bài báo phải được quan thống đốc duyệt trước. Giấy phép ấy có thể rút lúc nào cũng được.
      Mọi cuộc trưng bày hoặc phổ biến những bài hát, biếm họa hoặc tranh ảnh làm thương tổn đến sự tôn kính đối với các nhà cầm quyền đều được trừng trị.
      Đấy, bạn thấy bài kiểm duyệt ở thuộc địa cầm kéo khéo đến mức nào!
      Với biện pháp đó, chính quyền Đông Dương có thể ỉm được tất cả mọi vụ nhơ nhớp và tha hồ mà lạm quyền”.
      (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 2, tr. 97).
      Qua những đoạn viết trên của Nguyễn Ái Quốc, ông N.K.M có thể hình dung chế độ hà khắc của báo chí thực dân, đế quốc biết nhường nào. Dưới chế độ thực dân, đế quốc, báo chí không có chuyện được tự do đâu, hỡi ông N.K.M!
      Nguyễn Ái Quốc có lần kể lại, trong một cuộc bầu cử hội đồng thành phố Sài Gòn, viên thống đốc gặp ba ông chủ nhiệm báo tiếng Việt không được đăng lên báo của họ bản sắc lệnh quy định thể lệ bầu cử hội đồng thành phố ở Nam Kỳ. Họ là ứng cử viên, thế mà báo chí của họ bị cấm tuyệt không được đăng một cái gì dính dáng, dù xa hay gần, đến chương trình của họ. Vì ở Việt Nam, dưới chế độ thực dân, không có quyền hội họp quá 20 người, nên ứng cử viên phải gặp 3 nghìn cử tri lần lượt từng người một. Rồi viên thống đốc còn thông tri cho các tờ báo tiếng Việt khác biết là sở kiểm duyệt sẽ thẳng tay cắt xén những bài báo đăng bất cứ một lời bóng gió nào đụng chạm đến nhà cầm quyền thực dân, đụng chạm đến cuộc bầu cử ở thuộc địa. Một tờ báo tiếng Việt dịch đăng đạo luật nói về việc trừng trị những hành động hối lộ trong bầu cử, bài ấy đã bị cắt.
      Bàn tay bỉ ổi của kiểm duyệt dưới chế độ thực dân không dừng lại ở các xuất bản phẩm tiếng Việt, mà còn rờ mó cả vào thư từ riêng và các tờ báo tiếng Pháp không chịu ca tụng đức độ của các “cụ lớn” thuộc địa. “Sở Bưu điện và Sở Mật thám Nam Kỳ (Giám đốc Sở này là con rể Toàn quyền Đông Dương Anbe Xarô) đã nhận được lệnh không để lọt – bất cứ với lý do gì – những thư từ, bài vở, v.v. gửi cho báo Le Paria (Người cùng khổ) xuất bản ở Paris mà Nguyễn Ái Quốc là một trong những người sáng lập, hoặc tờ báo ấy gửi về (Đông Dương). Một người Mangát nguyên là lính tình nguyện tham gia đại chiến trong quân đội Pháp và có vợ người Pháp, đã bị trục xuất khỏi Tổ quốc của anh và bị kết án 5 năm tù đày biệt xứ, chỉ vì đã viết một bài báo cho tờ Le Paria và vài tờ báo khác ở Pháp, để tố cáo những sự nhũng lạm của bọn quan cai trị Pháp ở xứ sở anh” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 2, tr. 98). Nguyễn Ái Quốc kết luận:
      Làm cho dân ngu để dễ trị, đó là chính sách mà các nhà cầm quyền ở các thuộc địa của chúng ta ưa dùng nhất”.
      (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 2, tr. 99).
     Có thể kể ra đây vô số trường hợp mà Nguyễn Ái Quóc đã tố cáo chế độ thực dân, đế quốc đè đầu cưỡi cổ lên nền báo chí thời Đông Pháp. Hàng trăm, hàng nghìn nhà báo Việt Nam, trong đó có Nguyễn Văn Nguyễn, một nhà báo cách mạng nổi tiếng, sống dưới chế độ thực dân, đế quốc phải chịu cảnh tù đày, tra tấn, đánh đập đã man, chỉ vì dám nói lên tiếng nói của chân lý và công lý. Ông N.K.M có hiểu điều đó chăng, mà lại cứ chĩa mũi nhòn vào đả kích chế độ báo chí dưới chế độ dân chủ, cộng hòa.
      3. Nên hiểu về tự do báo chí sao cho đúng?  Nói đến tự do báo chí là nói đến tinh thần báo chí. Tự do báo chí ở đây không có nghĩa là tự do vô chính phủ về báo chí, muốn viết gì thì viết, muốn làm nhục ai thì làm nhục, muốn dựng đứng những câu chuyện không có thật để làm mất danh dự của người khác, xúc phạm đến nhân phẩm con người, mà là thứ tự do trong giới hạn và nó phải được gắn với luật pháp. Bóc tách tự do, dân chủ ra khỏi luật pháp là một thứ tự do ngoài vòng pháp luật. Chủ nghĩa dân tộc đã phá vỡ mọi thứ, trong lúc thế giới đang chao đảo về kinh tế và chính trị. Công nghệ càng phát triển, con người càng phụ thuộc lẫn nhau. Nhưng những con người cố chấp lại cố bới chuyện, soi mói, đả kích một cách dã man vào chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là chính thể Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, một chính thể được xây dựng trên nền tảng liên minh công nông vững chắc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong cuốn sách “Tư duy như một hệ thống”, tác giả David Bohm bình luận rằng, tự do, dân chủ không có nghĩa là “thích làm gì thì làm”. Trong sách “Bàn về khế ước xã hội” (Du Contrat social), tác giả Jean Jacque Rousseau bình luận: “Nếu hiểu thuật ngữ “dân chủ” một cách thật chuẩn mực, thì ta sẽ thấy từ trước chưa bao giờ có dân chủ, và sau này cũng sẽ không bao giờ có dân chủ thật sự… ta không thể tưởng tượng rằng cả dân tộc luôn luôn họp lại để bàn cãi liên miên về công việc chung”. Tự do báo chí cũng như tự do dân chủ đều có giới hạn của nó và nhất thiết phải gắn với luật pháp và phải trung thực với lịch sử, với sự kiện mà mình tung ra trên mặt báo. Nếu sự kiện mà mình tung ra không trung thực, thì sự kiện ấy chỉ là một bóng ma. Vu cáo một cách vô căn cứ để xúc phạm đến người khác, là lối tự do dân chủ phản động và không thể chấp nhận được.
      Gần đây, trên các trang mạng, những người khác chính kiến thi nhau lên án, buộc tội Luật An ninh mạng đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 5, thông qua ngày 12-6-2018 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2019. Qua nghiên cứu, tôi thấy đây là Luật được soạn thảo công phu và ban hành trong lúc này là cần thiết, vì tình hình trong lúc này (kể cả an ninh mạng) đang rất phức tạp, do sự chống phá quyết liệt của những người thù địch với chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa bảo đảm tính dân chủ, vừa bảo đảm tính pháp lý, như Khoản 3, Điều 2, đã viết: “Kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ bảo vệ an ninh mạng, bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, tạo điều kiện cho cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trên không gian mạng”; đồng thời, như Điểm I, Khoản 1, Điều 5 đã ghi rõ: “Yêu cầu xóa bỏ, truy cập xóa bỏ thông tin trái pháp luật hoặc thông tin sai sự thật trên không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Đó là sự kết hợp chặt chẽ giữa tự do dân chủ với luật pháp. Điều 6 của Luật An ninh mạng về bảo vệ không gian mạng quốc gia, cùng ghi rõ: “Nhà nước áp dụng các biện pháp để bảo vệ không gian mạng quốc gia, phòng ngừa, xử lý hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức cá nhân trên không gian mạng” và Điều 16 về phòng ngừa, xử lý hành vi xâm phạm an ninh mạng, có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; kích động gây bạo loạn, phá rối an ninh, gây rối trật tự công cộng; làm nhục, vu khống, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế”.
      Tuy nhiên, theo tôi, đây mới chỉ là Luật An ninh mạng, chứ chưa phải Luật Mạng. Luật Mạng có đến hàng trăm tình tiết về vấn đề mạng và an ninh mạng. Vấn đề khó nhất hiện nay là nhiều máy chủ đặt ở nước ngoài, ta không xử lý được.
      Luật An ninh mạng có tất cả 7 chương và 43 điều, là “thanh bảo kiếm” bảo vệ an toàn những vấn đề trên mạng; ghi rõ chính sách của Nhà nước về an ninh mạng; nguyên tắc bảo vệ an nình mạng; biện pháp bảo vệ an ninh mạng; việc bảo vệ không gian mạng quốc gia; hợp tác quốc tế về an ninh mạng; nêu các điều, khoản các về các hành vi bị nghiêm cấm về an ninh mạng; xử lý vi phạm pháp luật về an ninh mạng; vấn đề bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, trong đó có vấn đề phòng, chống tấn công mạng và khủng bố mạng; nêu rõ trách nhiệm của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ban Cơ yếu Chính phủ và các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên không gian mạng, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng không gian mạng.
      Vấn đề an ninh mạng đang là vấn đề hai mặt, không chỉ riêng của Việt Nam, mà đang trong phạm vi toàn cầu trên phương diện kinh tế - tài chính và thông tin đại chúng. Nhiệm vụ của chúng ta là khai thác những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực trên mạng. Theo tôi, thì trên mạng mặt tốt nhiều hơn mặt xấu. Nếu không có internet thì làm sao mà chúng ta biết được thông tin toàn cầu, làm sao mà ngồi trong phòng 20 m2 chúng ta lại biết được toàn thế giới. Ai đó chỉ nhăm nhăm khai thác mặt xấu mà không biết khai thác mặt tốt trên mạng, là người không thiện chí. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải cảnh giác đề phòng những kẻ dã tâm tấn công vào mạng của Việt Nam và của các nước khác, gây mất an ninh quốc gia, thiệt hai kinh tế - tài chính, trở thành nỗi lo âu “canh cánh bên lòng”.
     Luật An ninh mạng ra đời là một trong những công cụ để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới.
     Việt Nam là một quốc gia có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không cho phép bất cứ ai lợi dụng mạng để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.
     Chúng ta hãy đưa Luật An mạng vào cuộc sống!
   
 Đàm

114 và 330 , sự thật và những con số!



                   

Mấy ngày nay dân tình cả nước đang rất quan tâm đến con số 114 và 330. Trên khắp các trang báo, mạng xã hội đâu đâu cũng nói đến. Thậm chí nó còn “hót” hơn cả những vụ lùm xùm đánh ghen hay những chuyện shoping, làm đẹp của các chị em! Con số lên tới 114 và 330, đâu phải chỉ một vài, thế nên rõ ràng đây là chuyện bất bình thường chứ chẳng phải chuyện chơi. Không nói thì chắc các ông, bà, cô, dì, chú, bác, các anh chị, em cũng đều biết con số đó là gì. Thế nhưng cứ nhắc lại cho chắc ăn, đỡ mất công bà con suy luận, bởi thực tế cũng có nhiều kẻ lợi dụng một vài chuyện nhỏ, một vài sự việc đơn lẻ để lập lờ rồi đánh lận con đen, quy kết lung tung. Cho nên tôi cứ nói rõ ra cho chắc. Chả là thế này: Ngày 11/7, Bộ Giáo dục & Đào tạo chính thức công bố điểm thi THPT quốc gia 2018 của 63 tỉnh, thành. Ngay sau khi công bố kết quả, có một số thông tin về điểm số của thí sinh tại hội đồng thi của Sở Giáo dục & Đào tạo Hà Giang. Nhận được thông tin và qua tổng hợp sơ bộ, thấy có sự bất thường về kết quả thi tại hội đồng này (tỉ lệ thí sinh điểm cao khối A1 của Hà Giang chiếm gần 50% so với cả nước: cụ thể, cả nước chỉ có 76 thí sinh có điểm thi khối A1 đạt từ 27 điểm trở lên thì Hà Giang có đến 36 thí sinh đạt mức điểm này, chiếm 47,37% cả nước; trong khi số thí sinh cả nước gấp 170 lần của tỉnh Hà Giang, với 925.000 thí sinh, Hà Giang chỉ có 5.500 thí sinh. Đáng nói hơn là tỉnh này có tỷ lệ đỗ tốt nghiệp thấp nhất cả nước 89,35%),  Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phùng Xuân Nhạ đã trực tiếp trao đổi với Bộ trưởng Bộ Công an và Bí thư Tỉnh ủy Hà Giang đề nghị phối hợp chỉ đạo điều tra, làm rõ sự việc để xử lý nghiêm các sai phạm. Ngày 12/7, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có văn bản yêu cầu Ban chỉ đạo thi THPT quốc gia năm 2018 tỉnh Hà Giang kiểm tra, rà soát lại toàn bộ các khâu và báo cáo về Bộ. Ngày 13/7, tỉnh Hà Giang đã thực hiện việc rà soát và nhận thấy có dấu hiệu bất thường về kết quả thi, đồng thời báo cáo sơ bộ về Bộ GD&ĐT. Ngay sau đó, Bộ Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp với Bộ Công an và các ngành chức năng thành lập đoàn công tác lên Hà Giang, cùng Ban chỉ đạo thi của tỉnh này tiến hành kiểm tra, chấm thẩm định, làm rõ các sai phạm.

Trong hơn 2 ngày, Đoàn công tác đã làm việc hết hết công suất; chiều ngày 17/7 Bộ Giáo dục & Đào tạo, Sở Giáo dục & Đào tạo Hà Giang đã họp báo thông tin về vụ việc điểm thi bất thường tại tỉnh này. Kết quả chấm thẩm định cho thấy: tổng số có tất cả 114 thí sinh, với hơn 330 bài thi có tổng điểm đã công bố chênh lên hơn 1,0 điểm so với điểm chấm thẩm định; nhiều thí sinh có tổng điểm chênh lên hơn 20 điểm so với điểm chấm thẩm định. Cá biệt có những thí sinh có tổng điểm được làm tăng lên đến 26,8 điểm, thậm chí 29,95 điểm so với điểm chấm thẩm định. Một số bài thi có điểm tăng hơn so với điểm đã công bố từ 0,2 đến 1,0 điểm; có 3 bài thi môn GDCD có điểm chấm thẩm định tăng hơn 5,75 điểm so với điểm đã công bố (cụ thể chênh lệch ở các mon thì các bác đã rõ, xin không nêu lại). Những con số trên cho thấy sai phạm ở đây là rất nghiêm trọng. Bằng nghiệp vụ, đoàn công tác bước đầu xác định, ông Vũ Trọng Lương, Phó Trưởng phòng Khảo thí và Quản lý chất lượng, Sở GD-ĐT Hà Giang là người trực tiếp can thiệp vào kết quả thi của thí sinh. Cơ quan chức năng đang tiếp tục điều tra, làm rõ, củng cố hồ sơ để xử lý các cá nhân liên quan theo quy định của pháp luật.

Qua sự việc này, chúng ta thấy thật đáng buồn, những người gây ra sai phạm đáng bị lên án và xử lý nghiêm minh; cha mẹ các thí sinh là người đáng trách, còn các em học sinh là những người đáng thương và tội nghiệp!

Rõ ràng, chúng ta khó có thể chấp nhận được việc làm này của cá nhân ông Lương (và những người liên quan). Điều mà dư luận và các bậc phụ huynh cũng như học sinh bức xúc cũng là lẽ đương nhiên. Sự lo ngại về kết quả thực chất và đặt ra vấn đề liệu có còn sai phạm ở đâu nữa hay không cũng là điều dễ hiểu. Trong thực tế khi thực thi nhiệm vụ, có thể xảy ra những sai sót, nhưng chúng ta chỉ có thể chấp nhận sai sót ở mức độ rất nhỏ, hoặc là do những rủi ro, tai nạn nghề nghiệp. Còn ở đây, với con số 114 thí sinh và 330 bài được nâng điểm thì rõ ràng không thể là do sơ suất hay tai nạn nghề nghiệp được.

Việc Bộ Giáo dục & Đào tạo cùng các ngành chức năng nhanh chóng vào cuộc kiểm tra, thẩm định, làm rõ và sự chỉ đạo xử lý nghiêm các sai phạm theo quy định của pháp luật của Thủ tướng Chính phủ nhận được sự hoan nghênh đồng tình của nhân dân và dư luận. Ngay sau đó, Bộ Công an đã hướng dẫn, chỉ đạo Công an Hà Giang xử lý vụ việc và ngày 19-7, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Hà Giang đã ra Quyết định khởi tố hình sự về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” quy định tại Điều 356 Bộ luật Hình sự để điều tra, làm rõ theo đúng quy định của pháp luật; bắt tạm giam 3 tháng đối với Vũ Trọng Lương để phục vụ công tác điều tra. Đây là việc làm kịp thời và hết sức cần thiết để trả lại sự công bằng cho các thí sinh, cũng như sự thực chất của kỳ thi và sự nghiêm minh đối với những người sai phạm. Trong quá trình điều tra, tiếp tục xác minh làm rõ những cá nhân, tập thể liên quan và căn cứ mức độ vi phạm sẽ có hình thức xử lý. Vậy nên không thể nói một cách vô lý như tay Tư Nghèo trong bài “114 học sinh Hà Giang được nâng điểm là con cái nhà ai?” có đoạn viết “Có sẵn danh sách 114 đứa học sinh được nâng điểm sao không điều tra và truy tố luôn những đồng chí cha mẹ đồng phạm chớ!”  “Không có lửa sao có khói? Không có tiền thì sao có... sửa?  thiệt ra mấy cha đang giải quyết chuyện gian lận theo đúng quy trình gian manh của đẻng: chỉ một mình thèng phó phòng lãnh đạn, con cái ta tiếp tục không học nhưng vẫn lãnh bằng như cha như mẹ của chúng; và lãnh đạo ta thì tiếp tục lãnh... đạo để khỏi phụ lòng điều bốn hiếp pháp.”

Khi nhìn nhận, đánh giá bất cứ điều gì, chúng ta cũng cần phải công tâm, khách quan, nhìn một cách toàn diện, không thể từ một sự việc của Hà Giang (kể cả là những nghi vấn ở Lạng Sơn hay Sơn La hoặc là ở đâu đó) thì cũng không thể quy kết bản chất cho cả ngành giáo dục, càng không thể quy kết cho cả chế độ của chúng ta. Có một số kẻ lợi dụng sự việc này để viết bài, coment nói xấu chế độ, nói xấu lãnh tụ, bà con ta nên cảnh giác, chẳng hạn như Vũ Đông Hà đăng bài “Bộ mặt và bản chất gian lừa của chế độ” trên Danlambao: "Vụ gian lận điểm thi tốt nghiệp PTTHQG ở Hà Giang phơi bày toàn diện và thật nhất bộ mặt, bản chất, bộ máy, con người, xuất phát điểm, tiến trình phát triển, tương lai và hậu quả của chế độ cộng sản ở Việt Nam, hơn bất kỳ vụ nào từ trước đến nay." Bản chất gian lừa của loài sản không phải chỉ mới có đây. Đúng như tên gọi "bản chất", nó đã "có sẵn" từ khi đảng cộng sản ra đời. Kẻ khai sinh, đứng đầu, đại diện tối cao cho bản chất gian lừa không ai khác hơn là Trần Dân Tiên. Muốn biết tên này là ai, lừa đảo ra sao hãy đọc Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch. Biết rõ để hiểu tại sao những tên lừa đảo, vô giáo dục cộng sản vẫn ngày đêm tụng bài sống, chiến đấu, học tập, theo gương tên cáo hồ này”  hoàn toàn vô lý.  

Hoàng Hoài

“Gạc Ma - Vòng tròn bất tử” có gì đặc biệt?



             Lê Quốc Sơn, Quảng Nam

  Mấy ngày trở lại đây, dư luận nóng lên về cuốn sách “Gạc Ma - Vòng tròn bất tử” do tác giả Lê Mã Lương chủ biên. Sách có gì đặc biệt và vì sao vừa ra mắt bạn đọc được chục ngày lại bị cấm tái bản? Xung quanh vấn đề này, có nhiều điều chúng ta cần mổ xẻ.
Là một cựu chiến binh, tuy không trực tiếp tham gia trong sự kiện Gạc Ma năm 1988, nhưng vì tôi đam mê tìm hiểu lịch sử quân sự và thích thú sưu tầm tư liệu về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc về vấn đề Biển Đông. Đặc biệt là những hành động của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ tháng 5/1909 - khi Tổng đốc Lưỡng Quảng là Trương Tuấn Nhân phái Đô đốc Lý Chuẩn đem 3 pháo thuyền chớp nhoáng ra chiếm chỗ và bắn 21 phát đại bác tại một vài đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa. Tính đến sự kiện Gạc Ma ngày 14/3/1988, thì phía Trung Quốc có ít nhất có 12 sự kiện thể hiện ngày càng lấn tới ở Biển Đông (bao gồm cả Trung Quốc đại lục và Trung Quốc của Tưởng), đó là:
(1) Ngày 30/1/1921, Trung Quốc ra quyết định sáp nhập quần đảo Hoàng Sa (họ gọi là Tây Sa) vào đảo Hải Nam thuộc huyện Châu Nhai, tỉnh Quảng Đông;
(2) Cuối năm 1930, Trung Quốc cho đấu thầu khai thác phân chim, rồi từ năm 1931 ban quyền khai thác cho Công ty Anglo-Chinese Development.
(3) Năm 1935, Trung Quốc công bố cả 4 quần đảo ở biển Đông là Đông Sa, Trung Sa, Tây Sa, Nam Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc;
(4) Ngày 1/12/1947, Tưởng Giới Thạch kí lệnh đặt tên các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đồng thời tuyên bố sáp nhập vào lãnh thổ Trung Quốc. Cùng năm, xuất bản bản đồ công bố đường cong lưỡi bò gồm 11 đoạn chiếm gần hết biển Đông;
(5) Ngày 15/8/1951, Chu Ân Lai tuyên bố các quần đảo Tây Sa, Nam Sa Đông Sa và Trung Sa đều là lãnh thổ của Trung Quốc;
 (6) Năm 1956, lợi dụng lúc Pháp rút quân khỏi Đông Dương, Việt Nam chưa kịp tiếp quản, Trung Quốc đưa quân chiếm các vùng thuộc phía Đông quần đảo Hoàng Sa; còn Đài Loan của Tưởng Giới Thạch chiếm đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa.
(7) Ngày 21/2/1959, Trung Quốc đổ bộ, chiếm các đảo Hữu Nhật, Duy Mộng và Quang Hòa thuộc phía Tây quần đảo Hoàng Sa;
(8) Năm 1974, lợi dụng khi Mỹ rút khỏi Đông Dương, Trung Quốc tiến hành các cuộc xâm lấn quần đảo Hoàng Sa.
(9) Từ năm 1981, Trung Quốc tập xây dựng nhiều căn cứ ở Hải Nam, rồi điều 5 tàu chiến trinh sát ở vịnh Bắc bộ, chuẩn bị cuộc tấn công mới.
(10) Năm 1983, Trung Quốc cho 2 tàu chiến lớn đến tận cực Nam quần đảo Trường Sa thăm dò trinh sát, đồng thời cho các tàu đánh cá có vũ trang hoạt động ở vùng biển này, tháng 6 năm sau phê chuẩn việc thành lập khu hành chính trực thuộc tỉnh Quảng Đông bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
(11) Ngày 5/9/1987, Trung Quốc thành lập tỉnh Hải Nam bao gồm cả lãnh thổ quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tháng 10/1987, Trung Quốc mở cuộc tập trận lớn chưa từng có ở Trường Sa;
(12) Tháng 3/1988, Trung Quốc tấn công chiếm đóng đảo, ngày 14/3/1988, tàu chiến Trung Quốc có trang bị pháo, tên lửa tấn công làm 64 chiến sĩ Việt Nam bảo vệ đảo Gạc Ma thiệt mạng.
Như thế để thấy, cuốn sách “Gạc Ma - Vòng tròn bất tử” chỉ là công trình viết về 1 trong 12 sự kiến ấy. Vì có bạn bè trong nhóm tác giả nên tôi được tặng một cuốn. Sau khi đọc kỹ sách và đọc nhiều bài viết bình luận trên mạng xã hội, tôi quyết tâm viết ra một số điều (có thể toi còn viết bài khác nữa):
Một là, vì sao sách tạo nên dự luận nóng như vây? Theo chủ quan của tôi, sở dĩ cuốn sách này được dư luận quan tâm nhiều, làm nóng lên các trang mạng bởi nó có thông tin mà người đọc hy vọng sẽ bù đắp được khoảng trống kiến thức lấu này chờ đợi về một sự kiện vô cùng quan trọng của lịch sử dân tộc Việt Nam trong hành trình giữ vững biên cương của Tổ quốc. Cởi trói cho tư tưởng của Đảng và nhà nước Việt Nam lâu này quan niệm: “tránh vấn đề nhạy cảm”. Như chúng ta đã biết, cả thời kỳ dài, cứ có quan điểm coi đây là vấn đề tế nhị nên chúng ta hầu như ngại nhắc đến sự kiện Gạc Ma ngày 14/3/1988. Do vậy, học sinh, sinh viên không được học trong nhà trường, người dân khó đọc được trên báo chí chính thống. Người tham gia sự kiện 14/3/1988 và gia đình thân nhân của họ, đặc biệt là thân nhân 64 chiến sỹ đã hy sinh cũng có lúc tâm tư về công lao đóng góp của người đã hy sinh.
Hai là, tại sao biên soạn đến xuất bản khó khăn như vậy? Mất gần 4 năm mới cho ra mắt bạn đọc. Tác giả phải trải qua việc đề xuất với 13 nhà xuất bản, nhưng cuối cùng là Nxb Văn học ấn hành. Điều này có thể do một số nhà xuất bản sợ vấn đề nhạy cảm nên không dám nhận; cũng có thể do chất lượng không đáp ứng, hoặc có thể do nội dung sách không phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Nxb. Sau 9 ngày phát hành, 10.000 cuốn của đợt in đầu đã đến với độc giả trong nước, đến ngày 10/7/2018, được tái bản 20.000 cuốn. Nhưng hiên nay thì đang tạm dừng phát hành vì có nhiều ý kiến và đang chỉnh sửa những sai sót mà bạn đọc phản ánh.
Ba là, về kết cấu, nội dung: Sách có 4 chương. Chương một ‘Tháng Ba bi tráng’, chương hai ‘Nén lặng những nỗi đau’, chương ba ‘Ký ức người lính Gạc Ma’ và cuộc đời hậu chiến, chương 4 ‘Sự thật lịch sử không thể lãng quên’. Nội dung cuốn sách giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về sự kiện Gạc Ma 1988, thực chất là trận chiến đấu giữ một bên là chiến sĩ Việt Nam bảo vệ đảo và bên kia là quan lực Trung Quốc chiếm đảo, kết quả làm 64 chiến sĩ Việt Nam hy sinh và TQ chiếm được đảo.
Nhưng sách còn nhiều sai sót về sự kiện và địa danh, tên người ở các trang 19, 21, 25, 43, 47, 74, 81, 200 như bản đính chính của nhà xuất bản thừa nhận. Nhiều đoạn trích chưa có chú thích nguồn rõ ràng, chưa có ghi chú cụ thể về thời gian, địa điểm phỏng vấn. Mô tả nhiều chi tiết không cần thiết, làm giảm ý nghĩa giáo dục lòng yêu nước.
Bốn là, về dư luận xã hội: Có ý kiến ủng hộ, ca ngợi cuốn sách vì sách có ý nghĩa, giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về công của Việt Nam, tội của Tàu. Họ cho rằng, một cuốn sách ghi nhận những người lính chết trận trên biển để bảo vệ chủ quyền đất nước và danh dự của người lính trước quốc kỳ mà phải long đong tận 4 năm trời, chạy tới 14 nhà xuất bản mới xuất bản được quả là vất vả, chứa ẩn ý nào đây. Có ý kiến băn khoăn về một số chi tiết trong sách liệu có nhất thiết phải nêu ra hay không, cuốn sách có ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ Việt - Trung không? Nhiều chi tiết trong sách chưa khách quan, thiếu tính thuyết phục, không đáng tin cậy vì thiếu căn cứ. Có ý kiến phản đối, yêu cầu không phát hành vì có những vấn đề nhạy cảm; chi tiết “lệnh không được nổ súng” thể hiện ý đồ xấy của nhóm tác giả, tạo đà cho địch lợi dung để xuyên tạc, thổi phồng, xuyên tạc sự hèn nhất trong chủ trương của lãnh đạo Việt Nam trước những hành động xâm lấn của Trung Quốc.
Năm là, về đối tượng mua sách, đọc sách: Có người cho rằng, chỉ một số đối tượng mới tiếp cận, đọc sách này chứ không nên phổ biến rộng rãi, tái bản ồ ạt theo thị hiếu trong bối cảnh tư tưởng “bài Trung” ngày càng mạnh như hiện nay. Cần nhấn mạnh chi tiết trong sách viết: “tôi tính lượm khẩu súng của tên chỉ huy để bắn chết nó nhưng vì có lệnh không được nổ sung nên thôi. Nếu cho thì tôi đã bắn chết nó rồi” (trang 43) đã chứng minh 2 vấn đề: 1) Cộng sản Việt Nam sợ lộ sự hèn nhát của mình nên đã gây khó khăn cho việc xuất bản sách ; 2) sau khi sách được xuất bản, lãnh đạo cấp cao của cộng sản Việt Nam quan tâm mua, đọc sách đó, có nghĩa là thừa nhận, cổ súy cho sự sai lầm, hèn nhát của mình trong quá khứ.
Bởi vậy, tôi thấy một số bài viết có ý kiến về việc ông Võ Văn Thưởng (Trưởng ban tuyên giáo trung ương) ghé vào gian hàng First News – Trí Việt tại Đường sách TP. Hồ Chí Minh mua cuốn “Gạc ma – Vòng tròn bất tử” và thăm hỏi, quan tâm đến cuốn sách về đề tài lịch sử, biển đảo này. Họ nhắm vào ông Thưởng, chỉ trích cái này cái nọ.
Có ý kiến cho rằng, ông Thưởng phải chịu trách nhiệm về việc cuốn sách chậm được xuất bản, phải rất khó khăn, qua nhiều rào cản, cuốn sách có ý nghĩa như vậy mà phải để cho tác giả trình xin 14 nhà xuất bản và phải viết  đơn thư gửi đến nhiều cơ quan chức năng, báo chí đề nghị sách được xuất bản. Tác giả Tâm Chánh có bài “Gạc Ma, cuốn sách hay quyền tự do dân tộc” đăng trang điện tử Báo Tiếng dân viết: “Ban Tuyên giáo mà ông Thưởng là người đứng đầu phải chịu trách nhiệm về tình trạng những thông tin đúng đắn, nghiêm túc của dân chúng về những vấn đề của dân tộc mình, đất nước mình, xã hội mình bị cản trở”. Ngoài ra, có ý kiến cho rằng, việc làm đúng đắn nhất của ông Võ Văn Thưởng vào lúc này không chỉ là hành động cho thấy sự thuận tình của ông với cuốn sách về Gạc Ma mà cao hơn là phải xác định quyền tự do dân tộc”.  Một số người khác có nóng vội đưa ra đề nghị này đề nghị khác đối với ông Thưởng, thậm chí từ việc này để suy diễn sang việc khác, như thế là không nên.
Bản thân tôi thấy rằng, mua sách, đọc sách là một nhu cầu bình thường của con người trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Ông Thưởng hay ông nào đó làm to, dù làm chức gì đi nữa thì trước hết vẫn là một công dân Việt Nam. Khi làm tuyên giáo càng phải đọc nhiều, viết tốt, tiếp cận nhanh, nhiều thông tin mới để còn chỉ đạo việc này việc kia. Ông ấy vào tiệm mua sách này hay sách khác, cũng là chuyện thường đời. Tại sao chúng ta lại vịn chuyện nọ xọ chuyên kia. Các lỗi của cuốn sách, thì nhà xuất bản đã công bố xin lỗi và chỉnh sửa, ông Thưởng cũng cần đọc sách này để nắm bắt tình hình cụ thể chứ. Tác giả viết sai chỗ nào thì chịu trách nhiệm chỗ đó; nhà xuất bản sai sót khâu nào thì chịu trách nhiệm khâu đó. Tại sao chúng ta lại vin vào một câu viết mà nhà xuất bản đã công khai xin lỗi và đã đính chính lại, để quy kết một điều không khách quan chút nào cho ông Thưởng. Nhưng theo tôi, ông Thưởng cũng nên rút kinh nghiệm, lần sau có quyển sách nào tương tự thì phải chỉ đạo cơ quan chức năng xem xét kỹ lưỡng nội dung, không để xẩy ra việc xuất bản sai rồi xin lỗi, rồi dừng tái bản và phát hành.
Tôi không được làm lãnh đạo, cũng không phải là đảng viên cộng sản, nhưng tôi nghĩ, làm lãnh đạo cấp cao thì phải đọc kỹ những cuốn sách viết về lịch sử đất nước để còn biết đúng sai mà chỉ đạo chỉnh sửa và tìm trong đó những kinh nghiệm quý báu phục vụ công việc của mình. Thế chả nhẽ khi ông ấy mua sách có nội dung hay thì ta lại bảo ông ấy ủng hộ nội dung ấy; khi ông ấy mua sách có nội dung mà xã hội đang phản án thì ta cũng quy kết ông Thưởng ủng hộ cho nội dung xấu à.




Vội vàng hỏng chuyện không hay!



                                                   
Trong mỗi gia đình, chúng ta ai cũng có con cháu và năm nào mà chẳng có những việc thi cử, kiểm tra. Và đương nhiên kỳ thi tuyển sinh vào đầu mỗi cấp học đều rất căng thẳng. Vì vậy kỳ thi luôn được mọi người dân và xã hội hết sức quan tâm, đặc biệt là kỳ thi đại học, bởi nó là bước ngoặt trong cuộc đời của mỗi người, cũng là áp lực lớn đối với gia đình, người thân. Cùng với sự khổ luyện của mỗi sĩ tử, sự hỗ trợ của gia đình. Đồng hành với những suy tư ấy thì sự chuẩn bị công phu, chặt chẽ của các cấp quản lý, nhất là ngành giáo dục của mỗi quốc gia phải đảm bảo cho kỳ thi diễn ra thành công. Tuy nhiên dù có bất cứ giải pháp nào được coi là tối ưu thì việc thực hiện trong tất cả quá trình làm thi đều liên quan đến con người, vì vậy không thể tránh được hiện tượng tiêu cực xảy ra. Khi đánh giá chúng ta cũng không nên quá bi quan rồi vội vàng suy nghĩ thiên lệch về một sự việc, để rồi phủ nhận sạch trơn những nỗ lực của cả một hệ thống giáo dục luôn tìm cách đổi mới, hơn hết là đạo đức, trách nhiệm của biết bao thầy cô luôn mong muốn tạo môi trường tốt nhất cho con cháu chúng ta học tập, tu dưỡng, rèn luyện để trưởng thành.
Tôi cũng chia sẻ với một số người dân bức xúc khi thấy những tiêu cực, vi phạm gian lận trong thi cử, song cũng không nên có quan điểm như tác giả Song Chi viết trên trang Chân Trời Mới cho rằng “... tình trạng gian dối, nâng điểm ở Hà Giang, Sơn La chỉ là hệ quả của cả một nền giáo dục thối nát và một xã hội bị băng hoại về đạo đức dưới chế độ độc tài do đảng cộng sản lãnh đạo suốt bao nhiêu năm qua...”. Teo tôi thấy tác giả Song Chi đã lợi dụng thông tin về vụ việc tiêu cực ở Hà Giang trong kỳ thi THPT quốc gia vừa rồi để hướng người đọc sang khuynh hướng khác, tôi tin chắc nếu  mọi người có cái nhìn công tâm, khác quan để đánh giá thì sẽ không có cái nhìn một cách phiến diện như vậy.
Thực tế ai cũng biết, chẳng phải chỉ có ở Việt Nam mà các nước cũng vậy, cứ thi cử mà nhất là kỳ thi đại học thì thường hay xảy ra tiêu cực, gian lận, bởi nó quyết định lớn đến sự nghiệp của mỗi học sinh, là danh dự của mỗi gia đình, dòng tộc, đa phần phụ huynh có cái nhìn đúng đắn để hướng cho con mình biết trân trọng những gì là thực lực của mình, để tu dưỡng phấn đấu, chỉ một số ít thôi không biết cách giáo dục con trẻ điều đó mà còn có những hành động bán rẻ lương tâm và trách nhiệm, dùng cách này, cách khác để cho con em mình đỗ bằng mọi giá, phải chăng đây cũng là một phần nguyên nhân làm cho môi trường giáo dục bị hoen ố. Hiện tượng đó cũng không chỉ riêng ở đất nước chúng ta, tại Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc… đều từng xảy ra các vụ gian lận thi cử khiến hàng trăm nghìn kết quả thi bị hủy. Theo AFP đưa tin năm 2016, ngày 21/3, chỉ vài giờ trước ngày thi môn Hóa học trong kỳ thi đại học ở bang Karnataka, Ấn Độ, các quan chức đã hủy thi sau khi một học sinh cảnh báo đề bị lộ; một tuần sau đó, 3 quan chức Ấn Độ bị bắt hôm 4/4 vì lộ đề thi Hóa học, điều này buộc có 174.000 thí sinh dự thi đại học trên toàn tiểu bang bị hủy thi lần thứ 2 vì cùng một lý do. Theo CNN, năm 2014, khoảng 2.440 thí sinh Trung Quốc tham gia kỳ thi quốc gia đã bị phát hiện sử dụng thiết bị công nghệ cao để gian lận. Hơn 25.000 sinh viên tham gia kỳ thi để được cấp phép dược sĩ ở thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây trong ngày 18 và 19/10 ở 7 địa điểm thi khác nhau; theo truyền thông nhà nước Trung Quốc, các giám thị phát hiện các tín hiệu vô tuyến được sử dụng để truyền đáp án trong các mã đề thi cho thí sinh. Các thí sinh này đeo tai nghe không dây hoặc đặt các "cục tẩy điện tử" trên bàn. Đường dây của vụ gian lận thi cử lớn này đưa các thí sinh giả vào trong phòng thi rồi nhanh chóng rời đi sau khi đã ghi nhớ các câu hỏi. Sau đó, họ đọc các đáp án đúng cho thí sinh trong phòng thi qua các thiết bị tinh vi. Mỗi thí sinh gian lận trong kỳ thi đã chi 330 USD cho đường dây này. Năm 2013, College Board - đơn vị quản lý SAT ở Mỹ và Viện Khảo thí giáo dục Mỹ (ETS) ra quyết định là hủy bỏ kết quả thi ngày 4/5 của khoảng 1.500 thí sinh Hàn Quốc vì cáo buộc gian lận trên quy mô lớn. Đây là lần đầu tiên bài thi SAT (một trong những kỳ thi chuẩn hóa cho việc đăng ký vào một số đại học tại Mỹ) bị hủy bỏ trên cả nước Hàn Quốc; ngoài Hàn Quốc, gian lận trong kỳ thi SAT (một trong những kỳ thi chuẩn hóa dùng để xét tuyển vào các trường đại học-PV) cũng từng xảy ra ở Trung Quốc, Mỹ... với quy mô nhỏ hơn. Theo Times, trong số gần 3 triệu bài thi SAT trên toàn thế giới mỗi năm, ít nhất vài nghìn bài bị hủy vì nghi ngờ gian lận.
Vậy đây chính là những minh chứng về việc gian lận trong thi cử kể cả đối với các nước có nền giáo dục hiện đại, kinh tế phát triển bậc nhất nhì thế giới, đâu riêng gì ở nước ta. Tôi thiết nghĩ chúng ta nên có cái nhìn rộng hơn và khách quan hơn trong câu chuyện này. Trên thực tế, một số kỳ thi cũng đã xảy ra vụ việc tiêu cực, Bộ Giáo dục và chính quyền các địa phương đã vào cuộc, thanh tra làm rõ sai phạm và xử lý theo quy định của pháp luật. Những người vi phạm đều phải chấp nhận những bản án nghiêm khắc; đồng thời đã trả lại đúng kết quả mà các em học sinh xứng đáng đạt được. Về vụ việc ở Hà Giang hay ở Sơn La trong kỳ thi vừa qua, Bộ Giáo dục đã lập đoàn thanh tra và cùng vớ Bộ Công an vào cuộc nhanh chóng và đã tìm ra thủ phạm gây ra vụ việc này. Tất nhiên vụ việc cũng đã làm cho dư luận dậy sóng, song nó không ảnh hưởng hay tác động gì nhiều đối với kết quả của các em học sinh khác, bởi quy trình làm thi hết sức chặt chẽ, vi phạm để rồi làm sai lệch kết quả là do một khâu quan trọng trong quá trình chấm thi, cũng chỉ xảy ra ở một số ít thí sinh có quan hệ với người sai phạm. Sau khi phát hiện thì các đối tượng đều bị khởi tố và xử lý đúng người, đúng tội. Đồng thời Bộ Giáo dục đã chỉ đạo tất cả các địa phương rà soát lại quy trình chấm thi để đảm bảo kết quả công bằng chính xác và không phát hiện thêm sai phạm nào. Kỳ tuyển sinh đại học cũng không bị ảnh hưởng gì và vẫn diễn ra bình thường.
Tác giả có thể quy chụp để rồi đạt được cái mong muốn lớn hơn là từ một vụ việc gian lận thi cử sẽ lôi kéo độc giả hiểu sai chế độ, đi ngược lại với thành quả của nhân dân ta. Rõ ràng những năm gần đây kinh tế xã hội tiếp tục có bước phát triển, cho dù thế giới và khu vực có nhiều biến động phức tạp; nhà nước luôn đổi mới và thực hiện nhiều giải pháp để đưa Việt Nam vượt qua khó khăn; nhiều chủ trương mới được thực thi hiệu quả, góp phần tăng trưởng kinh tế. Đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện và nâng cao, an ninh quốc phòng được giữ vững, tinh thần đoàn kết dân tộc luôn được thể hiện rõ nét trong mọi lĩnh vực, nhất là giữ gìn độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.
Tôi được biết, mục tiêu của nước ta trong những năm tới là tiếp tục đổi mới nền giáo dục, phấn đấu tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân; giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả,...”. Cũng không đúng như viện dẫn của tác giả Song Chi rằng: “...Một nền giáo dục nhồi sọ,... chạy theo thành tích, chạy theo điểm số,... chỉ dạy chữ mà không dạy làm người, trọng bằng cấp hơn kiến thức thật,...”.

Nếu các bạn theo dõi thì trong những năm qua, từ năm 2013 đến 2017 các đội tuyển học sinh tham dự Olympic khu vực và quốc tế  đoạt gần 200 huy chương các loại, trong đó 61 Huy chương vàng, 73 Huy chương Bạc, 33 huy chương đồng; tại Cuộc thi sáng tạo Khoa học kỹ thuật quốc tế dành cho học sinh trung học năm 2017 xếp thứ 3 toàn đoàn sau Hoa Kỳ và Ấn Độ; năm 2018 các đoàn học sinh dự thi Olympic quốc tế đều đoạt giải cao, Vật lí quốc tế - IPhO lần thứ 49, cả 5/5 học sinh của đoàn Việt Nam tham gia đều giành huy chương; trong đó có 1 HCV, 2 HCB và 1 HCĐ; Olympic Sinh học quốc tế lần thứ 29, cả 4/4 thí sinh dự thi đều đoạt huy chương, gồm: 03 Huy chương Vàng, 01 Huy chương Bạc. Năm 2016, kết quả Chương trình Đánh giá học sinh quốc tế (PISA), học sinh Việt Nam vẫn giữ vị trí thứ 8 trong bảng xếp hạng về năng lực khoa học, thứ 22 về toán học và thứ 32 về đọc hiểu.

Như vậy có thể khẳng định rằng, kết quả giáo dục của Việt Nam là toàn diện, đúng với hướng chuẩn quốc tế. Nhà nước và nhân dân luôn dành sự quan tâm, đầu tư để chăm lo phát triển giáo dục đào tạo, phấn đấu đạt mục tiêu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. Điều này càng cho thấy không thể có nền giáo dục “... nhồi sọ,... chạy theo thành tích, chạy theo điểm số,... chỉ dạy chữ mà không dạy làm người, trọng bằng cấp hơn kiến thức thật,...” như tác giả đã nêu ở trên mà tồn tại trong điều kiện hội nhập ngày càng sâu rộng như hiện nay, cũng không thể nói ngược lại, theo kiểu nói xấu và chẳng liên quan gì như tác giả quy chụp rằng: “một xã hội bị băng hoại về đạo đức dưới chế độ độc tài do đảng cộng sản lãnh đạo...”.
Tỉnh táo, bình tĩnh, lắng nghe để đưa ra lời nhận xét khách quan, công tâm là việc nên làm ở mỗi chúng ta sống trong thời đại ngày nay.
               Trần Đại Dũng

Thứ Tư, 19 tháng 12, 2018

SỰ PHI LÝ, PHIẾN DIỆN CỦA LUẬN ĐIỂM “NHỮNG NGƯỜI CỘNG SẢN SÍNH DÙNG BẠO LỰC”




 Như đã thành thông lệ, hằng năm cứ vào dịp nước ta kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, trên các trang mạng, các thế lực thù địch lại tung ra nhiều luận điệu xuyên tạc ý nghĩa của sự kiện quan trọng này. Chúng trắng trợn và lố bịch đưa ra luận điệu: “Hồ Chí Minh và những người Cộng sản sính dùng bạo lực” nên đã đưa dân tộc vào “thảm họa” với hai cuộc chiến tranh (1945 - 1954 và 1954 - 1975), làm cho đất nước bị tàn phá, dân tộc bị phân ly và ngày nay vẫn nghèo nàn, đói khổ, v.v. Theo họ, giá như không đi theo con đường những người Cộng sản vạch ra mà bằng cách xin “chính quốc” trao trả độc lập thì nước ta vẫn có độc lập, tránh được chiến tranh, đi theo con đường của các nước tư bản để tới phồn vinh (!) Thực chất những luận điểm trên là nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và thành quả cách mạng to lớn của nhân dân ta.
Không thể nói Hồ Chí Minh và những người Cộng sản sính dùng bạo lực? Nhân dân Việt Nam yêu chuộc hòa bình, khát khao có cuộc sống hòa bình, hòa bình trong độc lập, tự do. Để đạt được, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, không sợ hy sinh, gian khổ, kiên quyết đấu tranh giành lấy hòa bình thật sự trong độc lập, tự do. Đó là sự thật!
Thực tiễn minh chứng, ngay từ khi vừa ra đời, Đảng ta đã phát động, lãnh đạo cao trào cách mạng 1930-1931 và 1936-1939. Đó là những cuộc tổng diễn tập, chuẩn bị tiền đề cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Tháng 9-1939, Chiến tranh thế giới lần thứ 2 nổ ra, tình hình thế giới và ở Đông Dương biến chuyển căn bản. Đảng ta nhận định và chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và phát động cao trào đấu tranh mới tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (tháng 5-1941), Đảng ta xác định: “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”[1]. Ngày 09-3-1945, phát-xít Nhật tiến hành đảo chính lật đổ chính quyền Pháp, thực dân Pháp đã đầu hàng quân Nhật và bỏ chạy. Ngay tối hôm đó, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã triệu tập hội nghị mở rộng và ngày 12-3-1945 ra bản Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Hội nghị quyết định phát động cao trào chống Nhật, cứu nước trong toàn quốc, làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa. Cả dân tộc ta gấp rút chuẩn bị những công việc cuối cùng, tạo và đón lấy thời cơ để vùng lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Ngày 14-8-1945, Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh vô điều kiện. Ở Việt Nam, bọn tay sai của chúng đã hoang mang đến cực độ. Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị toàn quốc, nhận định điều kiện khởi nghĩa đã chín muồi và cử ra Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc. Ngay đêm 13-8, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc ra Lệnh khởi nghĩa. Ngày 16-8-1945, Đại hội quốc dân họp, quyết định thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ngay trong ngày 16-8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”[2]. Hưởng ứng lời kêu gọi đó, nhân dân cả nước đã nhất tề vùng lên, chỉ trong vòng chưa đầy nửa tháng, cuộc Tổng khởi nghĩa của nhân dân ta đã thành công, lật đổ bộ máy thống trị phát-xít cùng triều đình phong kiến, thiết lập chính quyền cách mạng trên cả nước. Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 02-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, mở ra con đường phát triển của dân tộc. Như vậy, Cách mạng Tháng Tám nổ ra và giành thắng lợi nhanh chóng là nhờ sự tài tình của Đảng và Bác Hồ trong nghệ thuật chỉ đạo và lãnh đạo cách mạng; sự chuẩn bị chu đáo về đường lối, lực lượng,… nhất là, việc dự báo, chớp lấy thời cơ lịch sử “ngàn năm có một” để lãnh đạo nhân dân Việt Nam đứng lên tự giải phóng mình, chứ không hề ngồi yên trông mong, chờ và càng không bao giờ ngồi chờ “trao trả độc lập”.
Hiện thực lịch sử thế giới cho thấy: chưa ở đâu, nơi nào trên thế giới mà giai cấp tư sản, chủ nô bóc lột lại tự giác từ bỏ vai trò thống trị để trao quyền cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Chỉ ở đâu, nơi nào, giai cấp công nhân, nhân dân lao động bị áp bức bóc lột, dưới sự lãnh đạo của một đảng cách mạng chân chính lãnh đạo, nhất tề đứng lên đấu tranh bằng phương pháp: bạo lực cách mạng mới giành thắng lợi.
Một dân tộc có truyền thống văn hiến, yêu chuộng hòa bình, luôn dũng cảm đứng lên đấu tranh cho quyền lợi của dân tộc và sự tiến bộ, văn minh của nhân dân thế giới. Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, cả dân tộc Việt Nam đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm. Dân tộc Việt Nam cũng đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít Nhật. Sự chiến đấu bền bỉ, gian khổ và hy sinh đó đã giành được quyền thiêng liêng là độc lập, tự do cho dân tộc. Đây là quyền tự nhiên, thiêng liêng và bất khả xâm phạm.
Sự thật sinh động của những ngày tháng Tám năm 1945 lịch sử khẳng định rằng: Cách mạng Tháng Tám thành công không phải là “sự ăn may” như ai đó từng hồ đồ tuyên bố; cũng không phải Hồ Chí Minh và những người Cộng sản sính dùng bạo lực! Mà đó là phương pháp dùng bạo lực cách mạng để đập tan bạo lực phản cách mạng. Một sự thật lịch sử không thể phủ nhận, bác bỏ là: ngay sau khi phe phát-xít Đức - Ý - Nhật thua trận đầu hàng, thì lập tức thực dân Pháp núp dưới bóng quân Đồng minh lại rắp tâm cướp nước ta một lần nữa, buộc nhân dân ta phải bước vào cuộc chiến đấu chín năm kháng chiến trường kỳ. Thực dân Pháp chỉ đầu hàng vô điều kiện khi bị quân và dân ta giáng cho một đòn đích đáng bằng Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng nẫy Năm châu, chấn động địa cầu (năm 1954).
Giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại của Cách mạng Tháng Tám là không thể phủ định. Chỉ có những kẻ vì những đồng đô-la được bố thí mà vẫn cố tình xuyên tạc sự thật lịch sử, đổi trắng thay đen, tiếp tay cho các thế lực thù địch, điên cuồng chống phá Cách mạng Việt Nam. Mọi luận điệu xuyên tạc họ đưa ra thật nực cười và cám cảnh thay!

Nguyen         


[1] - ĐCSVN - Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 7, Nxb CTQG, H. 2000, tr.113.
[2] - Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 3, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 596.